"Phu quân, chàng… hình như khó chịu lắm? Có cần ta giúp không?"
Trong làn nước mờ ảo, làn da trắng như ngọc của Tạ Dật bị hơi nước xông cho đỏ ửng.
Yết hầu hắn trượt lên trượt xuống, giọng khàn đặc: "Dùng tay đi."
Làn nước khẽ va chạm giữa ta và hắn, tạo thành từng vòng gợn sóng lan ra rồi tan biến.
Tiếng thở dốc kìm nén theo từng nhịp sóng nước lan rộng.
Tạ Dật căng cứng người, dựa lưng vào thành bồn, quai hàm siết chặt, đôi môi vương chút ánh nước.
Sương mù quấn lấy đôi ta, mùi thuốc đắng len lỏi trong từng hơi thở.
Cho đến khi đầu ngón tay ta khẽ run rẩy, tất cả mới kết thúc.
Dục vọng qua đi, vành tai Tạ Dật đỏ bừng như muốn rỉ máu.
"Xin lỗi, ta—"
"Chuyện còn thân mật hơn thế chúng ta cũng từng làm rồi, có gì mà phải xấu hổ."
"Tuệ Tuệ, ta không muốn giam nàng cả đời trong cái tiểu viện lạnh lẽo này. Chúng ta sẽ không có hài tử, sau này ta cũng chẳng thể nào… Ta đã nói rồi, bất cứ lúc nào nàng hối hận, đều có thể rời đi."
"Ta không hiểu, chẳng phải vì chàng không thích ta, oán ta ngày ấy quyến rũ ép buộc chàng, oán ta ngày ngày dây dưa bám lấy chàng hay sao?"
"Ta không, ta chỉ là không muốn…"
Không khí lại rơi vào im lặng, khiến người khó xử đến cực điểm.
Tối đến, ta châm cứu cho Tạ Dật, kim bạc đ.â.m vào huyệt Âm Lăng Tuyền, rút ra lại hóa đen sì!
Trong lòng hoảng hốt, ta vội nhớ lại từng chi tiết trong ngày, tựa hồ không có gì khả nghi.
Nhưng vẫn không thể giải thích nổi sự dị thường này.
Theo lý, chân Tạ Dật đã phế, chẳng còn đe dọa đến ai, vì sao vẫn có người ngấm ngầm hãm hại?
Ta bắt đầu hoài nghi những đơn thuốc hắn dùng mỗi ngày có vấn đề.
Ta mang bã thuốc đến y quán kiểm tra, nhưng chẳng phát hiện ra gì bất thường, toàn là dược liệu hảo hạng.
Ta nghĩ nát óc, kiểm tra khắp nơi, hết thuốc thang lại đến các vật dùng thường ngày, mấy lượt chạy tới y quán, nhưng vẫn chẳng có thu hoạch gì.
Lương Húc nhắc ta, không chỉ có thứ đưa vào miệng, mà quần áo mặc hàng ngày, dầu thuốc xoa bóp cũng có thể bị hạ độc.
Ta vội nhét tất cả những chai lọ kia vào bọc, mang đi cho Lương Húc xem xét.
Trước khi đi, Tạ Dật gọi ta lại: "Tuệ Tuệ, dạo này nàng cứ ra vào suốt, đi đâu vậy?"
Ta sợ hắn lo lắng, bèn nói dối: "Ta chỉ ra phố dạo chơi thôi."
Hắn lặng lẽ nhìn ta, ánh mắt tối lại, tay mân mê chiếc nhẫn ngọc trên ngón tay, không nói gì thêm.
11
Ta cùng Lương Húc nghiên cứu các thứ ấy suốt nửa ngày, vẫn không phát hiện được điều gì khác lạ.
Đang lúc chán nản, chưởng quầy y quán đi ngang qua, kinh ngạc liếc ta một cái, cau mày hỏi:
"Khương cô nương, cô đang dùng loại hương gì vậy? Tuyệt đối không được dùng nữa!"
Mắt ta bỗng sáng lên, đúng rồi, hương xông!
Vội vàng trở về nhà lấy ít hương liệu đem tới, kiểm tra kỹ thành phần, hóa ra trong hương có chứa cùng loại độc với Nhuyễn Cốt Tán, thứ thuốc chuyên dùng để làm tê liệt gân mạch.
Dù đã trộn thêm đinh hương, quế hoa để che đi vị đắng chát, nhưng các nguyên liệu còn lại toàn là độc dược thật sự.
Dùng lâu, không chỉ bệnh cũ chẳng khỏi, người khỏe mạnh cũng hóa rã rời, tay chân bủn rủn.
Lưng ta lạnh toát, thủ đoạn thật độc ác.
Trở lại phủ, ta lặng lẽ thay sang loại hương khác, không tiết lộ nửa lời.
Chúng tốn công bày mưu như thế, chẳng lẽ nghĩa là chân của Tạ Dật vẫn còn hy vọng bình phục?
Từ sau đêm buông thả trong phòng tắm ấy, Tạ Dật dường như lại sinh ra chút khoảng cách với ta.
Thật ra trong lòng ta cũng có phần buồn bã.
Ta cũng là nữ tử bình thường, từng mơ cảnh cùng người mình thương sánh bước dưới hoa nguyệt, hòa hợp ân ái.
Chỉ là Tạ Dật không thích ta, nếu chẳng phải hắn tàn tật, hôn sự này nào đến lượt một tiểu nha hoàn như ta?
Chúng ta cùng nằm chung một chiếc giường, ngoài lần đầu ta chủ động quyến rũ hắn, còn lại hắn chưa bao giờ vượt qua giới hạn, dẫu có lúc không kìm nén nổi, cũng chỉ để ta dùng tay mà thôi.
Ta nghĩ, hẳn là hắn không yêu ta.
Duệ Đức kể, Tạ Dật trước đây từng đính ước với một vị tiểu thư danh môn, tay nàng ấy biết làm thơ soạn phú, tấu đàn, dung nhan khuynh quốc khuynh thành, là tài nữ nổi danh kinh thành.
Ta nhìn bàn tay mình, do lao động vất vả mà chai sạn, chẳng biết làm thơ, chẳng biết gảy đàn.
Ban đêm nằm cùng một giường, thân thể ấm áp ở ngay bên cạnh, mà như cách ngàn sông vạn núi, chẳng thể chạm vào.
Nỗi xót xa trong lòng dần dần dâng lên, còn đắng hơn cả những bát thuốc Tạ Dật phải uống.
Ta nằm im khóc thút thít, cảm xúc chẳng biết gọi tên là gì.
"Tuệ Tuệ, sao vậy?"
Không ngờ Tạ Dật cũng chưa ngủ.
Ánh trăng xuyên qua song cửa, soi vào đôi mắt đen sâu thẳm của hắn.
Hắn nhẹ nhàng lau nước mắt nơi khóe mi, dịu giọng nói:
"Ta từng nói rồi, nàng có thể hối hận bất cứ lúc nào."
Trước mắt là một người, tĩnh lặng như lan như ngọc, nụ cười tựa trăng thanh gió mát.
Ngay cả từ chối người ta cũng dịu dàng, kiềm chế như thế.
Người tốt như vậy, vốn dĩ không thuộc về ta.
Hắn chắc hẳn cũng hối hận vì lấy ta, nên cứ lần lữa thăm dò như vậy.
Dù sao ta cũng mặt dày, giả bộ không hiểu, chỉ thản nhiên đáp:
"Phu quân, đừng nghĩ ngợi nữa, ngủ đi."
12
Sáng hôm sau, Tạ Dật bỗng hỏi ta có phải đã đổi hương xông không.
Loại ta đổi là “Tín Xuân Trong Tuyết”, hắn khẽ ngửi một lúc rồi nói:
"Hương này, giống hệt nàng vậy."
"Hương này rẻ lắm đấy, ý chàng là chê ta à! Chàng dám giễu cợt ta!"
Ta liền trừng phạt, đẩy xe lăn của hắn quay liền mấy vòng, đắc ý nói:
"Biết lỗi chưa? Lần sau còn dám cười ta, ta cho chàng quay đến hoa mắt chóng mặt."
Hắn mỉm cười, mắt ánh lên những tia sáng lấp lánh:
"Ý ta là, hương này như bạch mai giữa tuyết, khiến người lữ hành trong ngày tuyết lớn vẫn thấy hy vọng của mùa xuân. Nàng trong lòng ta cũng như vậy."
Ta ngây người ra, hắn đang khen ta sao?
Nhưng sao ta nghe không hiểu nhỉ.
Ánh mắt chạm nhau một khắc, cả hai lại đồng loạt né tránh.
Đêm ấy, Tạ Dật gặp ác mộng.
Hắn ôm chặt lấy ta, giọng nghẹn ngào, mong manh: "Đừng đi… Đừng rời bỏ ta."
Có lẽ, hắn lại mơ về nữ tử mà mình chẳng thể có được kia.
Ta lén hôn lên giữa mi tâm hắn, như đặt nụ hôn lên khối bạch ngọc mong manh đẹp đẽ nhất thế gian.
Nhưng nước mắt ta lại thấm ướt cả gối.
Chắc vì nghĩ ngợi miên man mà ta ngủ không ngon, đến tận khi mặt trời lên cao mới tỉnh dậy.
Tạ Dật đã rửa mặt chải đầu đâu vào đó, ta vội vàng chạy đến thư phòng, quả nhiên hắn lại đang ôm mộng cũ.
Trên tờ tuyên chỉ còn nguyên mùi mực, nổi bật hai câu thơ:
"Không đau không buốt ở trong lòng, Âm u khiến người hao gầy."
"Đổi lòng ta, lấy lòng nàng, mới biết tương tư sâu ngàn trùng."
Có mấy chữ ta không nhận ra, nhưng kẻ ngốc cũng biết, đây là thơ hoài niệm về một người nào đó.
Càng nhìn càng thấy chua xót, không cam tâm.
Duệ Đức bảo, nữ tử từng đính ước với hắn vừa sinh con gái vài ngày trước, ta hiểu ra, chắc là hắn biết chuyện đó, nên mới viết ra mấy câu thơ sầu não kia.
Ta đẩy xe lăn của hắn đi một vòng quanh phòng.
"Chàng có muốn ra ngoài đi dạo một chút không?"
Tạ Dật lập tức từ chối.
"Thiếu phu nhân không biết đó thôi, công tử đã hơn một năm không ra ngoài, đi lại rất bất tiện."
Ta khuyên nhủ hồi lâu, hắn vẫn không lay chuyển.
Trong lòng ta có chút hụt hẫng.
Những ngày trước, mỗi khi ở cạnh Tạ Dật, ta chỉ sợ hắn buồn tẻ, nên cố nghĩ ra chuyện đông tây để kể cho hắn nghe.
Nào là sông đã tan băng, ở chợ cá người bán m.ổ b.ụ.n.g cá lại thấy viên ngọc đỏ, vì hai đồng tiền mà tranh giành đánh nhau, ngoài cổng Chu Tước đêm khuya chợ quán mở hàng, có dây đỏ, đầu dê, bánh hành, tàu hũ chiên giòn, hương thơm xộc thẳng vào mũi.
Hắn không thể đi đâu, ta bèn làm mắt làm tai cho hắn, những gì ta thấy ta nghe, đều kể lại cho hắn biết.
Thế nhưng hôm nay, không hiểu vì sao, ta lại rất muốn đẩy hắn ra ngoài nhìn ngắm một lần, chứ chẳng chỉ nghe ta kể chuyện nữa.
Chắc là ta nhỏ nhen, không chịu nổi việc hắn cứ mãi ngồi giữa thư phòng u tối ấy mà nhớ thương nữ tử kia.
Cứ cảm thấy, hắn càng lưu luyến ở đó, tương tư càng sâu nặng, mà ta thì chẳng thể chịu đựng thêm nổi nữa.
13
Đầu xuân đã đến, trăm hoa đua nở, nhành liễu non xanh lay động trong gió.
Sau khi bị Tạ Dật từ chối, ta chẳng nói chẳng rằng, thu dọn hết bút mực của hắn.
Lần này xem hắn còn tưởng nhớ ai được nữa.
Hắn chẳng biết làm sao, dịu giọng hỏi: "Hôm nay làm sao vậy, sao lại không vui?"
Ta ngẩng đầu nhìn hắn, lại hỏi lần nữa: Hôm nay chúng ta ra ngoài một chuyến được không?"
Trong đôi mắt của Tạ Dật thoáng lộ vẻ do dự, ta đang định phát cáu thì bất chợt nhìn thấy trong sân có một mảng xanh tươi rực rỡ.
Gốc cây khô kia, thực sự đã sống lại rồi!
Ta từ buồn hóa vui, vội đẩy hắn ra dưới gốc cây.
"Chàng xem, cây khô trong sân đã mọc chồi non rồi. Chàng từng nói sẽ đồng ý với ta một điều kiện."
"Điều ta muốn, chính là chàng phải đi ra ngoài cùng ta."
Tạ Dật hơi ngạc nhiên, nhìn theo hướng tay ta chỉ, chỉ thấy nắng vàng trải khắp sân, thân cây dường như hút đủ nước, cành khô bắt đầu nhú ra từng chồi biếc mơn man.
Vài phiến lá xanh non bóng mượt đang dần xòe rộng trong gió.
Tạ Dật ngước mắt nhìn ta, thấy ánh mắt tràn đầy chờ đợi, yết hầu khẽ động, cuối cùng rất khẽ nói một tiếng "Được".
Ta hớn hở đẩy hắn chạy quanh sân, gió xuân lướt qua bên tai, mang theo hương hoa dìu dịu.
Hắn cũng nở nụ cười, đôi mắt từng phủ sương mờ giờ lóe lên một tia sáng.
Tựa như viên sỏi đen nơi đáy suối lấp lánh ánh dương.
Nắng ban trưa sáng đến chói mắt.
Ta đẩy Tạ Dật bước ra khỏi Trúc viện.
Sắc mặt hắn trắng bệch như tờ giấy, quai hàm cứng lại, đầu cúi thấp, như muốn tránh mọi ánh nhìn.
Ta ngẩng cao đầu, xem như không có ai xung quanh. tồn tại.
"Đại công tử cũng ra ngoài rồi à?"
"Nhị công tử tháng sau sẽ làm lễ phong Quận vương, chắc trong lòng không vui, ra ngoài đi dạo cho khuây khỏa thôi."
"Nói cũng phải, chỉ tiếc đại công tử bạc phước, giữ không nổi tước vị vốn thuộc về mình."
Bọn hạ nhân trong phủ xì xào bàn tán, tiếng xì xầm vẫn lọt tới tai ta như kim châm.
Nói lớn đến thế, chắc Tạ Dật cũng nghe rõ cả rồi.
Nhưng hắn chẳng nói gì.
Ta nhận ra, hắn là người cực kỳ ôn hòa, mà một người như vậy, năm xưa làm sao có thể thống lĩnh ba quân, xông pha chiến trận?
Chắc là tháng năm bị giam hãm nơi khuê phòng đã mài mòn khí phách thuở nào.
Tạ Tu Viễn lại xuất hiện.
Ta giả vờ không nhìn thấy, cúi đầu lầm lũi đi thẳng.
Hắn lại đưa tay chặn bánh xe lăn, dịu giọng quan tâm, ánh mắt vẫn không rời khỏi ta.
Nét mặt đầy thiện ý nhắc nhở:
"Thân thể đại ca thế này, vẫn nên tránh gió thì hơn. Đại tẩu sao có thể chỉ nghĩ cho mình, bướng bỉnh như vậy chứ?"
Tạ Dật siết c.h.ặ.t t.a.y vịn, ta liền đưa bàn tay mình phủ lên mu bàn tay lạnh buốt ấy.
14
"Ngươi nói xong chưa? Xong rồi thì tránh ra, chúng ta còn phải ra chợ dạo chơi."
"Nhị công tử đã quan tâm đại ca đến thế, phiền ngươi khiêng giúp cái xe lăn này lên bậc thềm đi, ta sức yếu không làm nổi."
Sắc mặt Tạ Tu Viễn trầm lại một thoáng, rồi ra hiệu cho hạ nhân.
"Sao thế, vừa rồi chẳng phải còn quan tâm đại ca lắm sao? Việc nhỏ xíu này mà cũng phải nhờ người khác làm giúp?"
Hắn cau mày, cúi người xuống, chật vật nâng xe lăn lên.
Để tiện ra ngoài, ta buộc thêm một cái túi vải phía sau, nhét đầy đồ ăn, nước uống, nặng chẳng kém gì ai.
Thêm nữa, Tạ Dật thân hình cao lớn.
Lúc đầu, Tạ Tu Viễn còn làm ra vẻ ngạc nhiên, đi được mấy bước thì mồ hôi vã ra như tắm, mặt đỏ bừng.
Đến bậc cuối cùng, hắn thở hồng hộc, sắc mặt tía tai.
Ta liếc mắt đưa tình với Tạ Dật, cười đến đắc ý.
Ra khỏi cầu Long Tân là đến phố Chu Tước, người qua kẻ lại đông như mắc cửi, nào là người bán hàng rong, kẻ gọi mời í ới, náo nhiệt vô cùng.
Ban đầu, Tạ Dật vẫn cúi đầu, siết chặt ngón tay.
Như một hồn ma chẳng dám thấy ánh mặt trời, khuôn mặt tuấn tú trắng bệch dưới ánh nắng, trông thật lạ lẫm.
Một lúc sau, hắn phát hiện ai nấy đều lo việc của mình, chẳng ai đặc biệt chú ý đến hắn.
Ta cảm nhận rõ ràng hắn đã dần thả lỏng.
"Lâu rồi không ra ngoài, phố xá thay đổi nhiều quá."
Trong Tạ phủ, lũ hạ nhân chỉ giỏi a dua, đều nghe lệnh Tạ Tu Viễn.
Lão phu nhân cũng chẳng đoái hoài gì đến Tạ Dật, chưa từng đến Trúc viện thăm nom, người bà ta thương nhất vẫn là con trai thứ.
Ra khỏi cửa rồi, chẳng ai biết hắn là ai, ngược lại, hắn càng cảm thấy tự do.
Ta rủ hắn ghé hàng vải đầu tiên, ông chủ sửng sốt một thoáng, thấy ta cầm túi tiền nặng trịch, lại liếc nhìn áo gấm Tạ Dật, liền nở nụ cười tươi rói đón tiếp.
Ta chọn hai xấp vải, so lên người, hỏi Tạ Dật thấy cái nào đẹp hơn.
Hắn khẽ mỉm cười: "Cái nào cũng đẹp, lấy cả hai cũng được."
Chỉ trả lời cho có lệ.
Ta nhất quyết bắt hắn phải nói thật, hắn nghĩ một lúc rồi đáp:
"Hai tấm này màu trông già quá, nàng còn trẻ, không hợp đâu. Trên kệ có tấm gấm màu tím khói, với đoạn vải màu xanh liễu, hợp với nàng hơn nhiều."
Chủ tiệm khen nức nở mắt nhìn người của hắn tinh tường, hai tấm đó là hàng đắt nhất, bảo vật của tiệm.
Ta nghe một tấm mà giá cả trăm lượng bạc thì hoảng hốt, đòi trả lại, Tạ Dật đã trả bạc xong xuôi.
"Hiếm khi ra ngoài, nàng thích thì cứ mua."
Ta bối rối, thấy áy náy, lại muốn chọn cho hắn một tấm vải.
Tạ Dật thích màu đen, chủ tiệm thấy ta rộng rãi, vội vàng mang ra một đoạn gấm đỏ đen thêu chỉ vàng, ta so thử lên người hắn, thấy thật vừa vặn, đẹp vô cùng.
Trên đường ta ríu rít nói không ngừng, hắn cũng không còn lặng lẽ như trong phòng, thỉnh thoảng đáp lời, đôi khi còn kể chuyện vui.
Chúng ta lại cùng vào một tiệm gốm sứ, bên trong đông khách.
Có người đưa mắt tò mò nhìn Tạ Dật, nhưng ánh mắt chỉ là hiếu kỳ, không như đám người trong Tạ phủ, đầy ác ý.
"Cô nương, vị công tử này là…?"
Ta hãnh diện giới thiệu:
"Phu quân ta bị thương nơi chiến trường, trước kia từng… là một Bách phu trưởng đó. Trận đại chiến ở Bình Sa Quan các người biết chứ? Chàng liều mình tử thủ, đôi chân này cũng là khi ấy bị giặc làm bị thương."
Mọi người đồng loạt xuýt xoa, ánh mắt nhìn Tạ Dật bỗng tràn đầy kính trọng.
Chương 4: Uyên ương quấn quýt
15
Trận chiến Bình Sa tổn thất nặng nề, lấy ít địch nhiều, ngăn được vó ngựa phương Bắc tràn xuống, đổi lại được sự bình yên nơi biên ải.
Nghe nói trong trận ấy, số người sống sót chỉ còn mấy trăm.
Hoàng thượng đã phong tước cho các binh sĩ còn lại, trong dân gian cũng lưu truyền nhiều chuyện về họ.
Bởi vậy dân chúng vô cùng cảm kích những vị chiến binh ấy.
Ta không nói rõ thân phận thật của Tạ Dật, sợ hắn không thoải mái.
Nhưng trong lòng, ta vẫn luôn thấy hắn thật vĩ đại.
Chúng ta mua một đôi vòng tay ngọc men sứ, ông chủ còn tặng thêm một cặp tượng Kim Đồng Ngọc Nữ nhỏ xíu.
"Vật này bày ở miếu đã được khai quang rồi, linh nghiệm lắm đấy, mang về đặt trong nhà, chưa đầy một năm sẽ có quý tử!"
Mặt ta bỗng đỏ lên, vội đẩy Tạ Dật rời khỏi cửa tiệm.
Đi một vòng, chúng ta ghé cửa tiệm của Lý thợ mộc ở phía Nam thành.
Lý thợ mộc chỉ còn tay trái, nhưng cố gắng học nghề, mở được một tiệm nhỏ nơi đất đai đắt đỏ này.
Khi cha ta còn sống, thường thở than rằng mình đủ cả hai tay mà không làm đồ tinh xảo được như ông ấy.
Tính tình Lý thợ mộc sảng khoái, ống tay áo bên phải rỗng tuếch mà vẫn tất bật lo liệu, khách đến người đi, mùn cưa b.ắ.n ra từ lưỡi bào như hoa nở.
Chúng ta vừa bước vào, Tạ Dật lặng im hồi lâu.
Lý thợ mộc thấy Tạ Dật thì cười lớn:
"Thì ra phu quân của Giang cô nương lại là vị này, quả thật là chàng trai tuấn tú, trách sao cô ấy cứ tới đây mãi, nay học làm gậy, mai lại bắt ta thêm đệm cho xe lăn, làm lão già này mệt bở hơi tai."
Ta vội ngăn ông: "Lão Lý, ai bảo lão nói mấy chuyện đó, thứ ta đặt làm đâu?"
"Ơ kìa, cô nương làm bao nhiêu thứ, tất nhiên phải cho phu quân biết mới đúng chứ. Nữ nhân ngại ngùng, ta nói hộ lại còn không vui."
Ông lấy ra một đôi khung gỗ cao tới nửa người, để ta cho Tạ Dật tập đi.
"Ta thấy vị công tử đây còn trẻ, chịu khó tập luyện, chưa biết chừng sau này lại đứng dậy được."