6
Lục Húc cong đôi mắt hạnh, thu đao vào vỏ, giấu nơi ngực.
“Không dám, không dám. Nương tử mộng thấy gì mà mồ hôi đầy trán, có cần vi phu san sẻ đôi phần?”
Ta thuận thế ngã vào lòng hắn, lấy khăn lau qua ngực trần hắn.
“Vậy thì hay lắm.”
Lục Húc mặt đỏ như gấc, lập tức mặc áo đứng dậy.
Chỉ để lại một câu chẳng đầu chẳng đuôi:
“Không biết xấu hổ.”
Thế là, một đêm vô sự.
Nói đến chuyện chiêu rể Lục Húc nhập trạch, việc gì cũng tốt.
Chỉ trừ một điều — hắn quá mức ồn ào.
Lại chẳng chịu cùng ta viên phòng.
“Thân này, ta muốn dành cho người ta thật lòng yêu thương, nàng là người đó sao?”
Rốt cuộc cũng chỉ là thiếu niên vừa qua tuổi cập kê.
Với chuyện ái tình còn mang nhiều mộng tưởng.
Nghĩ đến việc hắn chẳng còn sống được bao lâu, lại thêm kiếp trước sống trong cảnh nghèo khổ nơi Lục phủ, ta chỉ cười, mặc hắn tùy ý.
Lục Húc có một tỳ nữ, tên gọi Tử Uyên, theo hầu từ thuở nhỏ.
Mới đầu, nàng ta hay cắn môi, nói năng cạnh khóe ta đủ điều:
“Tiểu thư không biết, thiếu gia thuở nhỏ áo không đủ ấm, cơm chẳng no lòng, may nhờ có nô tỳ ở bên. Nô tỳ là vật duy nhất phu nhân quá cố để lại cho thiếu gia, mối nghĩa này, người ngoài chẳng thể so. Sau này nô tỳ nguyện một đời hầu hạ thiếu gia, mong phu nhân rộng lòng dung thứ.”
Lại là chữ “Uyên”.
Ta khẽ phủi bọt trà trong chén, nghĩ thầm, e rằng ta với chữ “Uyên” vốn đã khắc mệnh.
Lục Húc khi thì nói hai người họ tình nghĩa sâu đậm, khi lại bảo sau này sẽ nạp nàng ta làm thiếp, miệng nói khô cả lưỡi.
Ta thì rất rộng lượng, tặng hắn một tờ giấy khế đất, bảo hắn đưa người ấy nuôi ở biệt viện.
Chỉ dặn một điều:
Đừng để cha mẹ ta biết.
Hắn lại chống nạnh, phồng má đỏ mắt, trách ta vô tâm.
Cuối cùng, Tử Uyên quả thật đã biến mất khỏi phủ.
Ta cũng chẳng rõ Lục Húc là đem nàng giấu kỹ nơi đâu, hay vì nàng quá phiền nhiễu mà hắn đã đuổi đi rồi.
Ngày nối ngày trôi qua, thoáng chốc đã bước vào mùa đông.
Hôm ấy, trong vườn lê có gánh hát mới đến, diễn một vở đang thịnh hành nhất ở kinh thành.
Lục Húc nghe được, hứng thú dạt dào, giật lấy sổ sách trong tay ta.
“Nương tử, cùng ta đi xem hát.”
7
Ta nghĩ, thiên hạ này không ai làm thê chủ hiền đức, rộng lượng, yêu thương phu quân như ta nữa.
Lục Húc muốn làm gì, ta đều chiều chuộng.
Hắn muốn dạo kỹ viện, ta cũng theo cùng.
Hắn bảo muốn sao trên trời, phản ứng đầu tiên của ta không phải cân nhắc có làm được không, mà là lo sợ ngôi sao ấy sẽ thiêu bỏng tay hắn.
Mấy lần, Lục Húc ngập ngừng như có điều muốn nói.
“Nương tử, nàng thật tàn nhẫn… dùng kế này để khiến ta cả đời chẳng thể rời xa nàng.”
Ta tựa má, mỉm cười:
“Thế sao? Vậy giờ phu quân đã không thể rời xa ta chưa?”
Lục Húc đỏ mặt bỏ chạy như trốn lửa.
Ta chỉ tiếc nuối khẽ lắc đầu.
Cứ thế này, đại kế sinh tử e là không thành rồi.
Vai chính của vở tuồng là đào kép trứ danh chốn kinh kỳ, dáng điệu nhẹ nhàng như chim hồng vụt bay, khiến bao người dưới đài say đắm ngoái nhìn.
Vở diễn, cũng chỉ là chuyện nam nữ hoan ái, tình trường sầu bi.
Song, vở này lại có phần khác lạ.
Là ái nữ của tể tướng đem lòng yêu một trạng nguyên công tử — chàng trai trong sáng như trăng, song xuất thân hàn vi.
Từ đó, nàng dây dưa không dứt, chẳng những mê mẩn si tình, còn cầu phụ thân ra tay nâng đỡ chàng.
Vì ái nữ, tể tướng vui lòng gật đầu.
Tưởng là một đoạn giai thoại phong nguyệt.
Nào ngờ, hoa rơi hữu ý, nước chảy vô tình.
Trạng nguyên công tử sau khi thăng quan tiến chức, lại trở mặt với nhạc phụ, vạch tội ông nhiều năm tham ô, hủ bại.
Hai người giằng co giữa chữ tình và chữ nghĩa.
Trạng nguyên chịu áp lực tứ bề, vẫn phải tuân mệnh vua, tra xét tể tướng.
Ái nữ kia thì vướng giữa cha và lang quân, chẳng thể chọn bên nào.
Vở tuồng ấy, ca khúc từng hồi, bi lụy khôn nguôi.
Khi kết thúc, trạng nguyên công tử chỉ để lại cho nữ tử sa cơ một câu duy nhất:
“Nàng có biết, ta hận nàng thấu xương.”
Cái gọi là yêu hận…
Bởi yêu mà sinh sợ hãi, bởi yêu mà sinh ưu phiền.
Rốt cuộc, hắn hận nàng.
Hát xong, người tản, Lục Húc phe phẩy quạt, miệng nở nụ cười:
“Nương tử thấy vở tuồng này thế nào? Theo nàng, vị trạng nguyên kia là người có tình, hay vô tình?”
8
Ta nhấm nháp hạt dưa, gật đầu không ngừng.
“Quả là một vở diễn hay.”
“Theo ta thấy, trạng nguyên kia chẳng phải có tình, cũng chẳng phải vô tình — mà là cầm thú đội lốt người.”
Lục Húc lấy quạt che mặt, bật cười ha hả.
Nhưng đến khi nhìn thấy gương mặt ta đẫm lệ.
Hắn lập tức lặng im, tay chân cuống quýt, lấy khăn lau nước mắt cho ta.
“Vị danh kép kia quả xứng danh danh kép, diễn đến nỗi khiến nương tử cảm động rơi lệ, đáng thưởng, đáng thưởng.”
“Lục Húc.”
“Nương tử?”
“Ta tê chân rồi.”
Đêm ấy, trên đường hồi phủ, ta nằm trên lưng Lục Húc.
Ta không nói, hắn cũng chẳng mở lời.
Đêm tuyết yên lặng, chỉ còn tiếng hô hấp đan xen giữa đôi ta vang lên khẽ khàng.
Chỉ là, ký ức lại dẫn dắt ta về năm nào — cũng một đêm tuyết phủ trắng trời.
Khi ấy, Thẩm Hoài Cảnh còn tá túc trong phủ ta, hai chúng ta cùng đến tư thục học chữ.
Hắn vốn ít lời, tính tình cương trực, lại mồ côi cha mẹ, chẳng ai che chở.
Ở độ tuổi nửa lớn nửa nhỏ, trong lớp thường có vài công tử thế gia, chuyên bắt nạt kẻ yếu đuối.
Một lần, từ miệng tiểu tư, ta nghe được tin hắn bị chặn đường hành hung, lập tức nổi giận dẫn theo gia đinh đến giúp hắn.
Không ngờ sau đó, sắc mặt hắn vô cùng khó coi.
“Hứa Thanh Thủy, chuyện của ta, từ nay ngươi có thể đừng can dự nữa không?”
Tuyết rơi lả tả, gió lạnh thấu xương trong núi gào rít.
Ta đứng ngơ ngẩn giữa trời, bất lực nhìn bóng lưng hắn đi xa như cây tùng ngạo tuyết.
Thuở ấy, ta cho rằng — chỉ vì hắn không thích ta, nên mọi điều ta làm đều trở thành sai trái.
Hắn thích Phàn Uyên, cho nên nàng ta làm gì, hắn cũng dung túng, yêu chiều.
Mãi đến nay, ta mới bàng hoàng hiểu được.
Cái gọi là “đại ân như đại thù.”
Hắn tự cho mình là văn nhân thanh cao, lại gặp ta vào lúc bần hàn nhất.
Ta đối tốt với hắn — là ân, là gông xiềng, là oán hận, duy chỉ không phải là tình.
Gông xiềng ấy khiến hắn phải cưới ta, sống những ngày như mắc nghẹn giữa ngực.
Nhưng Phàn Uyên thì khác.
Kiếp trước, khi hắn và nàng gặp nhau, ta đã cùng hắn vượt qua những năm tháng bị chèn ép, mưu sinh gian khổ.
Đúng lúc hắn bắt đầu ngẩng đầu làm người, đắc ý trước thời vận, lại bất ngờ được một tiểu thư dịu dàng động lòng vì hắn — sao hắn có thể không say mê?
Còn kiếp này thì không giống.
Vừa bước chân vào quan trường, hắn đã được người khắp nơi trợ giúp.
Lần này, là Phàn Uyên có ơn với hắn trước.
Kiếp này, đổi lại là nàng đập tan kiêu ngạo trên người hắn.
Cái gọi là “ân tình” — nếu ân trước, tình sau, thì ân chính là ràng buộc.Dù bao nhiêu ân nghĩa, cũng khó đổi được chân tình.
Còn nếu có tình trước, rồi mới có ân, thì lại là chuyện hoàn toàn khác.
Nhìn ánh trăng mênh mông, hồ băng tĩnh lặng trước mắt.
Bất giác lệ ta rơi, giọt nước mắt rơi vào cổ Lục Húc, ấm nóng.
Trải qua hai kiếp, rốt cuộc ta cũng hiểu — vì sao hắn lại tuyệt tình đến thế.
Lục Húc chợt dừng bước.
“Phu nhân… sao lại khóc?”
9
“Chỉ là… bỗng nhiên nghĩ thông được vài chuyện.”
Lục Húc liền giơ tay áo, nhẹ nhàng lau đi giọt lệ trên mặt ta.
“Vậy thì chẳng phải chuyện tốt sao?”
“Phải, là chuyện tốt.”
Năm ấy, nơi sơn lâm tuyết lớn, ta giận quá hóa lạc đường, chẳng ngờ gặp một thiếu niên áo đỏ, bị trẹo chân.
Giẫm trên con đường tuyết trắng, ta cõng hắn xuống núi.
Cảnh ấy, chẳng khác gì hôm nay.
Trầm mặc một lúc, ta cất lời:
“Lục Húc.”
“Ừm?”
“Chàng nhất định phải sống cho thật tốt.”
“Tự nhiên rồi, ta và nàng đều phải sống thọ trăm tuổi mới được.”
…
Hắn đã thất hứa.
Tháng sáu năm ấy, Mậu Lăng đại hạn, mùa màng thất bát, triều đình hạ chỉ trưng thu lương thực từ giới thương gia để cứu đói.
Giống như kiếp trước, triều đình chỉ đích danh Lục Húc áp tải lương thảo.
Bởi vì trong nhà họ Lục, việc vất vả mệt nhọc như vậy xưa nay đều do hắn đảm đương.
Đêm trước ngày khởi hành, ta đích thân sắp xếp hành lý cho hắn, nhét vào bao nhiêu là lương khô và bình lọ đựng thuốc trị thương.
Lục Húc thấy vậy, chỉ mỉm cười nhàn nhạt, tựa gió xuân thổi qua mặt nước.
“Nương tử chớ lo, chỉ là đường thuỷ, ta quen thuộc lắm rồi.”
Thấy trong mắt ta đầy lo lắng, hắn lại cười càng thêm tuỳ ý:
“Nương tử… chẳng lẽ thật lòng thương ta rồi chăng?”
Hắn không biết, lòng bàn tay ta đã sớm bị mồ hôi lạnh thấm ướt.
Trong ký ức, kiếp trước hắn chết rất thê thảm.
Xác trầm đáy biển, không còn tung tích.
Lục Húc là con thứ sáu trong nhà, Lục phủ con cái đông đúc, mà thân mẫu hắn chỉ là một vũ cơ, sau khi sinh hắn thì mất sớm, nên Lục gia chỉ qua loa bỏ vài mảnh y phục vào áo quan, xem như lo liệu hậu sự.
Không người tế bái, không ai đoái hoài.
Trước lúc hắn rời bến, ta buộc kỹ bên hông hắn một túi nước da cá quý giá, dặn dò từng lời:
“Nếu giữa biển chẳng may nổi phong ba, bị cuốn vào sóng dữ, nhất định phải ôm chặt khúc gỗ mục, đừng dễ dàng buông bỏ sinh mệnh.”
Lục Húc nhìn chằm chằm vào ta, ánh mắt bỗng trở nên sâu thẳm:
“Nương tử quan tâm ta đến vậy, khiến vi phu không khỏi xúc động… Không biết nàng là thực tâm chăm sóc ta, hay mong ta chết sớm để dễ bề tái giá?”
Ta vỗ tay cười gượng.
“A, nghe nói Đông Hải có một loại trân châu màu hồng phấn, tỏa hương thơm nhẹ, ánh sáng nhu hòa, giá trị ngàn vàng… Phu quân khi trở về nhớ mang vài viên cho ta. Ta bày trong phòng, ngắm mỗi ngày cũng tốt.”
Hắn nhìn ta, ánh mắt bình lặng như nước.
Giọng nói chẳng khác nào lần hắn ra ngoài dạo chơi, ta tiễn hắn với lời dặn dò:
“Được, nhất định.”
Cuối cùng, châu báu quả thật được gửi tới tay ta.
Còn người thì… không bao giờ trở lại.
Cha mẹ lo ta đau buồn, khuyên ta tiết chế nỗi thương tâm, còn đưa đến vài bức họa tân lang, bảo ta lựa chọn lại.
Ta đặt trân châu xuống, xoa xoa đôi mắt cay xè, chỉ ngẩng đầu ngắm bầu trời xanh biếc.
Món vật được giấu ở tầng sâu nhất trong tay nải kia, không biết hắn có từng thấy qua hay chưa…