“Muội muội à, Quốc công gia thương hương tiếc ngọc, nâng muội làm Nhị phòng. Tuy có chút uất ức, nhưng cũng là danh phận chính đáng. Sau này nếu sinh được con nối dõi, chưa hẳn không có tiền đồ.”
“Chỉ có điều, có một chuyện muội cần nhớ kỹ – bất luận muội và thế tử từng có tư tình ra sao, từ nay về sau đều phải đoạn tuyệt sạch sẽ.”
“Nếu không, hậu quả tất sẽ mất mạng.”
“Nếu muội không làm được, chi bằng bây giờ chết đi còn thanh sạch hơn, khỏi để ngày sau làm hỏng cả thanh danh một nhà.”
Ngọc Uyển gần như ngất lịm, phụ thân hận nàng mất mặt, liền lệnh cho nàng quỳ trong từ đường mà suy xét lỗi lầm, không được bước ra nửa bước.
Di nương còn muốn khóc lóc ầm ĩ, phụ thân liền giận dữ quát to:
“Nữ nhi tốt mà ngươi dạy ra đó sao? Nếu còn làm loạn, ta lập tức đưa ngươi tới gia miếu! Hay là ngươi còn thấy mất mặt chưa đủ?!”
Ngay trong đêm, thúc phụ liền liên kết với các tộc trưởng, ép phụ thân ta phải gạch tên Tưởng Ngọc Uyển ra khỏi gia phả, bên ngoài chỉ nói rằng nàng là người thân xa tá túc trong hầu phủ.
Bởi lẽ, với việc Ngọc Uyển gây ra, chẳng ai dám cược vào nhân phẩm của nàng thêm lần nào nữa. Lỡ sau này lại xảy ra điều gì, thì ít nhất tộc phả cũng còn đường lui.
Quốc công gia muốn nạp Nhị phòng, lại là nữ nhi xuất thân Hầu phủ, chuyện hôn sự dẫu sao cũng phải làm rình rang một chút.
Mẹ chồng ta tức giận đến phát điên trong viện. Bao năm qua, cha chồng tuy có nạp thiếp, nhưng toàn là vũ nữ hoặc nha hoàn xuất thân thấp hèn.
Còn Tưởng Ngọc Uyển tuy đã đổi tên đổi họ, nhưng bên ngoài vẫn là người của họ Tưởng. Nay đường đường gả vào phủ làm Nhị phòng, chẳng khác nào một bạt tai giáng thẳng vào mặt bà ta.
Ngày Ngọc Uyển nhập phủ, đèn hoa treo rực rỡ khắp nơi. Mẹ chồng dù có muốn phản đối cũng chẳng còn cách – Quốc công gia đã hạ lệnh, bà mà dám trái ý, chính là ganh ghét, bất kính.
Ta đứng ra lo liệu tất cả, vừa là để bảo toàn thể diện cho họ Tưởng, lại vừa cố ý làm rình rang như thể cưới chính thất vào cửa.
mẹ chồng giận đến nghiến răng, thế tử mặt mày tái nhợt như xác chết, còn ta thì trong lòng vui như trẩy hội.
Ta mở kho phát chẩn, bày biện linh đình, trang trí viện của Ngọc Uyển đẹp lộng lẫy như hoa trong cung, khiến nàng và thế tử nhìn mà như dao đâm tim.
Ngọc Uyển được kiệu hoa của phủ Quốc công rước vào, đêm tân hôn hoa chúc thắm nồng.
Sáng hôm sau, nàng vận y phục hồng bạc, quỳ trước mẹ chồng dâng trà.
Nàng vốn sắc nước hương trời, lại khéo trang điểm, biết bản thân dáng vẻ yếu đuối là mị lực lớn nhất. Ánh mắt ướt át như sương sớm, nâng tách trà lên, giọng nói ngọt ngào:
“Xin thỉnh chủ mẫu dùng trà.”
mẹ chồng vì thể diện, không tiện làm khó, chỉ thưởng cho một đôi vòng tay bạc:
“Sau này phải hầu hạ Quốc công gia cho tốt, chớ có phong tình như thuở trước. Nếu làm mất mặt phủ Quốc công, ta sẽ không dung thứ.”
Ngọc Uyển đôi mắt đẫm lệ, dáng vẻ uất ức khiến Quốc công gia nhìn mà đau lòng.
Tân thiếp vừa nhập phủ, Quốc công gia liên tục nghỉ đêm tại viện nàng, khiến mẹ chồng nổi trận lôi đình, lật cả bàn ăn.
Ngọc Uyển dần thích nghi với cuộc sống nơi Quốc công phủ. Nàng tự thấy những ngày này cũng không tệ, dẫu sao thì Quốc công gia mới thật là chủ nhân thật sự của họ Cố.
Đám hạ nhân thấy gió đổi chiều, liền quay sang nịnh hót nàng. So với ở Tưởng phủ, cuộc sống nơi này càng thêm vinh hiển.
Chưa hết, nàng còn vin vào sự sủng ái, dám chèn ép ta.
Một buổi sáng, khi ta tới vấn an mẹ chồng, nàng lại lớn tiếng với ta:
“Con dâu thế tử thấy ta sao chẳng hành lễ? Dẫu sao ta cũng là di mẫu của ngươi!”
Cố Thịnh An đứng bên cạnh, mắt đỏ bừng. Ta liền nhẹ nhàng khoác tay hắn, lạnh nhạt nói:
“A di nói phải. Thế tử, xin mời người hành lễ với di mẫu.”
Sắc mặt Ngọc Uyển lập tức sa sầm, giọng the thé:
“Ngươi thật to gan! Ta dù là thiếp, cũng là chủ mẫu trong phủ, ngươi dám vô lễ với ta sao?!”
Ta che mũi, né tránh hương thơm nồng sực từ người nàng, làm bộ như nghén nặng, nôn nao không chịu nổi.
Thị nữ Thị Mặc vội vàng đỡ lấy ta:
“Phu nhân nhà ta thân thể không khỏe, mong di nương lượng thứ.”
Ngọc Uyển tức đến phát run, còn định tiếp tục phát tác.
Ta tái mặt, thân thể mềm nhũn như sắp ngất, Thị Mặc quát khẽ:
“Di nương à, chủ mẫu thật sự của phủ này – mẫu thân thế tử vẫn còn đây, chưa đến lượt ngài phách lối đâu.”
“Nếu phu nhân ta có chuyện gì, ngài gánh nổi trách nhiệm chăng?”
Đúng lúc đó, nàng thấy Quốc công gia từ xa bước tới, liền lớn tiếng gọi:
“Phu nhân đã có thai, di nương là trưởng bối, lẽ nào còn muốn lập quy củ với người đang mang thai sao?”
Lời vừa dứt, sắc mặt Cố Thịnh An đại biến, vui mừng siết lấy tay ta:
“Thật ư, Sương Nhi? Nàng có thai rồi sao? Ta… ta sắp làm cha rồi?”
mẹ chồng cũng cuống quýt từ chỗ ngồi bước xuống:
“Trời ơi, mau đỡ thế tử phi ngồi! Người đâu, truyền đại phu mau!”
“Đứa trẻ trong bụng con chính là trưởng tôn đích truyền của phủ Quốc công, tuyệt đối không thể có sơ xuất.”
Ngọc Uyển bất mãn, nũng nịu quay sang Quốc công gia:
“Quốc công gia, người xem nàng kìa~”
Lời còn chưa dứt, ta liền giả vờ buồn nôn, che miệng khẽ ho khan.
Cha chồng, mẹ chồng, cùng phu quân ta nhất thời cuống quýt, kẻ gọi đại phu, người gọi mang trà sấu, người lại bảo bưng chậu thau, nhốn nháo như ong vỡ tổ, còn ai bận tâm đến nàng.
Ta ngẩng đầu, thản nhiên nhìn Tưởng Ngọc Uyển, giả vờ nép vào vai Cố Thịnh An, làm nũng:
“Phu quân, thiếp thấy trong người khó chịu lắm~”
Cố Thịnh An dịu dàng an ủi:
“Chớ sợ, có ta ở đây rồi.”
Từ xa, ta nhìn thấy Ngọc Uyển mắt hoe đỏ, ánh lệ chực trào, ta cố ý chọc giận nàng, mấp máy môi không tiếng: “Ta đã thắng.”
Thấy vậy, sắc mặt nàng lập tức vặn vẹo, phất tay áo một cái, hầm hầm bỏ đi.
Ta khẽ mỉm cười.
Dù là Quốc công gia, hay Quốc công phu nhân, bọn họ tuổi đã ngũ tuần, còn có gì quý trọng hơn huyết mạch kế thừa của nhà họ Cố?
Một ả thiếp thất sủng, chẳng lo tính đường lui, lại nhàn rỗi gây sự với ta, thật là buồn cười.
Ngày hôm sau, ta dạo bước tới hoa viên thưởng cúc đang vào độ mãn khai, vừa đến bên giả sơn, bỗng nghe thấy tiếng khóc sụt sùi của một nữ tử.
“Cố lang… vì sao chàng lại có thể sinh con cùng nàng ta…”
“Chàng rõ ràng từng hứa, chỉ để thiếp sinh con cho chàng… chàng nói không thích nàng, sẽ không chạm vào nàng cơ mà…”
“Giờ thiếp đã mang cốt nhục của chàng… chàng bảo thiếp phải làm sao…”
Ta thất kinh kêu khẽ một tiếng.
Người sau giả sơn lập tức quay lại — không ai khác, chính là Cố Thịnh An và Tưởng Ngọc Uyển.
Thấy ta đứng phía sau, cả hai đều kinh hoảng thất sắc.
Cố Thịnh An vội bước đến, nhưng ta đã nước mắt đầm đìa, lùi lại:
“Đừng tới gần!”
“Nàng ấy là di mẫu của chàng, chàng lại dám làm ra chuyện trái luân thường như thế! Nếu phụ thân biết được… chàng có hiểu hậu quả không?”
Cố Thịnh An luống cuống phân bua:
“Sương Nhi, không phải như nàng nghĩ đâu!”
Ta giận dữ chỉ về phía bóng người đang hoảng hốt bỏ chạy:
“Lời các người vừa nói, ta đều nghe thấy cả! Còn muốn lừa ta sao?”
“Thật khiến người ta ghê tởm! Ta sẽ bẩm báo với phụ thân, ta muốn hòa ly!”
“Phu nhân!” — Cố Thịnh An phịch một tiếng quỳ sụp dưới đất, siết lấy vạt váy ta:
“ ta không cố ý… bữa tiệc sinh thần hôm nọ của nhạc phụ, ta uống say… chính Ngọc Uyển lẻn vào phòng nghỉ, dụ dỗ ta phạm sai… nàng ta dùng việc ấy uy hiếp ta!”
Ta một cước đá văng hắn ra:
“Chàng có biết nếu chuyện này truyền ra ngoài, hậu quả sẽ ra sao không?! Đừng nói là ngôi vị thế tử, e rằng toàn bộ phủ Quốc công cũng bị liên lụy!”
“Tư thông với di mẫu… là đại nghịch bất đạo đó!”
Cố Thịnh An rít lên:
“Ta đảm bảo, sẽ không ai phát hiện! Tuyệt đối không có ai biết!”
Chát! — ta tát mạnh một cái:
“Chàng tỉnh táo lại đi! Trên đời này còn việc gì là Tưởng Ngọc Uyển không dám làm?! Chàng để cho nàng ta nắm giữ bí mật lớn thế, nàng sẽ chịu để yên sao?”
“Trước kia chàng đã dây dưa không rõ với nàng ta, giờ nàng ta mới vào phủ chưa bao lâu đã mang thai — phụ thân nhất định sẽ nghi ngờ huyết thống đứa bé, chàng tự nghĩ xem nên làm thế nào đi.”
Dứt lời, ta lệ rơi lã chã, quay đầu bỏ đi.
Theo lời Thị Mặc kể lại, ngay trong ngày hôm đó, tiểu đồng của Cố Thịnh An đã đến hiệu thuốc mua một thang dược sẩy thai, sai vú nuôi sắc thành, đưa đến phòng của Ngọc Uyển.
Đêm ấy, nàng ta liền mất con.
Cay đắng mà không dám hé răng, chỉ đành vờ mình ngã bệnh.
Ngay cả khi Quốc công gia mấy lần ngỏ ý muốn lưu lại phòng nàng, nàng ta đều kiếm cớ từ chối.
Ta nghe vậy chỉ khẽ cười lạnh:
Cố Thịnh An, quả thực là kẻ nhẫn tâm vô tình.
Vì bảo toàn cho mình, hắn không màng sống chết của Ngọc Uyển.
Ngày hôm sau, ta sai thị nữ mang theo nhân sâm linh chi, lấy cớ thăm bệnh mà đến phòng Ngọc Uyển.
Thấy nàng sắc mặt tái nhợt, uể oải tiều tụy, ta làm ra vẻ quan tâm:
“A di thật là bất cẩn, sao lại thành ra thế này. Phụ thân dặn thiếp phải chăm sóc người chu toàn.”
“Mấy món bổ này vốn là thế tử mua để bồi dưỡng cho thiếp, nhưng giờ thiếp đang mang thai, cũng không tiện bổ quá mức, thôi thì đem sang biếu a di vậy.”
Ngọc Uyển nghiến răng, ánh mắt chứa đầy oán độc:
“Tưởng Ngọc Sương! Ngươi đừng đắc ý! Nếu không phải vì ngươi, thế tử sao lại ép ta uống thuốc phá thai?!”
Ta bình thản cắt lời:
“A di nói năng cẩn trọng. Trước lúc xuất giá, phụ thân từng dặn — từ nay về sau, người có làm gì, ông cũng không can dự. Người nên tự suy xét cho kỹ.”
“A di còn trẻ, chi bằng dốc lòng lấy lòng Quốc công gia. Nếu một ngày nào đó sinh được quý tử, chưa biết chừng có thể xuất phủ, làm Thái phu nhân.”
“Dù sao thì Quốc công gia vốn xem trọng huyết mạch. Bấy lâu nay, phủ này chỉ có một mình thế tử là con. Nếu a di sinh thêm một đứa, đến lúc phân gia sản, tất được ưu ái hơn phần người.”
Nghe vậy, ánh mắt Tưởng Ngọc Uyển lập tức sáng lên.
Ta liền nhoẻn miệng cười, xoay người rời đi.
Tưởng Ngọc Uyển vì sao hết lần này đến lần khác toan tính, rõ ràng đã gả cho Quốc công gia, lại vẫn dây dưa với Cố Thịnh An?
Không phải vì sợ một mai Quốc công gia nhắm mắt xuôi tay, nàng từ đó không còn nơi nương tựa đó sao?
Có thai… thì khác.
Nhưng nếu nàng ta mãi chẳng thụ thai được thì sao? Ắt hẳn sẽ tìm mọi cách liều mạng.
Quả nhiên, vừa dưỡng bệnh hồi phục, Tưởng Ngọc Uyển liền hết lòng lấy lòng Quốc công gia, trăm phương ngàn kế, ngày ngày quấn lấy người, đêm nào cũng mong giữ chân ở lại trong viện.