Chuyện táo bạo nhất mà nàng từng làm trong đời, chính là dâng hiến thân mình cho bằng hữu của huynh trưởng nàng, khi hắn bị người ta gài bẫy.
Hắn là vị Thừa tướng trẻ tuổi nhất đương triều, khí chất phong quang vô hạn, quyền cao chức trọng.Nếu không phải vì lần lầm lỡ này, hắn vốn là người mà cả đời nàng cũng không thể nào chạm tới.
Sau đêm hoang đường ấy, dưới vô số ánh nhìn, nàng đã được trở thành Thừa tướng phu nhân như ý nguyện.Nàng tự biết mình có lỗi với hắn, cho nên nàng luôn cố gắng nhẫn nhịn, dịu dàng chăm sóc hắn.
Suốt mười năm trời, nàng là thê tử hiền lương đoan chính nhất của hắn, cũng là tình nhân thủy chung son sắt nhất bên cạnh hắn.Nàng cứ ngỡ rằng, sau từng ấy thời gian chung sống, dẫu hắn không yêu thì ít ra cũng dành cho nàng chút tôn trọng, chút tiếc thương.
Cho đến một ngày đông giá buốt, khi mang canh nóng đến thư phòng, nàng bất chợt nghe thấy giọng nói lạnh lẽo như băng từ sau cánh cửa chợt vang lên:“Tự hủy đi thanh danh của bản thân, đó chính là việc làm của kẻ tiểu nhân.”
Tuyết năm ấy rơi thật lạnh.Trong một thoáng thất thần, nàng lạc bước, ngã xuống hồ.
Lần mở mắt ra nữa, nàng đã trở về năm mười lăm tuổi.Đúng lúc này, huynh trưởng đang dẫn hắn bước vào cửa.Nàng nhìn vị phu quân đã sớm ngày đêm kề cận suốt mấy chục năm kia, thong thả mà xa lạ hành lễ một cái.
Nàng thầm nghĩ, đời này, nàng sẽ không bao giờ gả cho hắn thêm một lần nào nữa.
Sau khi Tạ Dục Vãn sống lại, hắn vẫn luôn kiên nhẫn chờ đợi những toan tính của nàng.
Thế nhưng, ngay khi hắn tin rằng mọi chuyện rồi sẽ diễn ra đúng như kiếp trước, thì lại thấy nàng mỉm cười, đưa chén rượu chứa Mê Tình Hương kia cho thư sinh bàn bên.
Năm Không Sương thứ nhất, ngày mồng bảy tháng ba.
Khương Hoạ đang quỳ trước linh đường sơ sài, đôi mắt đỏ hoe nhìn tấm linh vị đơn sơ đặt trên bàn gỗ, thân hình tiều tụy.
Bảy ngày trước, di nương (*) để lại vài lời ngắn ngủi rồi tự vẫn trong phòng. Lúc ấy vừa mới qua năm mới, chuyện tự vẫn xui xẻo như vậy, ai nấy đều kính nhi viễn chi. Nàng đã cầu xin suốt ba ngày, đem hết số ngân lượng ít ỏi còn lại sau khi chữa bệnh cho di nương, van xin hồi lâu mới đổi được một cỗ quan tài và tấm linh vị trong căn phòng này.
Dù đã bảy ngày trôi qua, Khương Hoạ vẫn không thể hiểu nổi, vì sao di nương lại tự vẫn.
Nàng gần như chết lặng chuẩn bị hậu sự cho di nương, nhưng mỗi khi rảnh rỗi, cảnh tượng ngày hôm đó lại đột ngột hiện về trước mắt.
Hôm đó nắng rất đẹp.
Nàng vừa được tổ mẫu hứa gả, định đem tin vui về hôn ước sắp tới nói cho di nương. Nàng vốn muốn tạo cho di nương một bất ngờ, nên đã không gõ cửa.
Thế nhưng khi nàng đẩy cửa bước vào, đập vào mắt là một thi thể mảnh mai gầy gò.
Di nương treo mình trên một dải lụa trắng, thân thể buông thõng xuống.
Khi nàng run rẩy, men theo thân thể ấy nhìn lên, liền thấy gương mặt trắng bệch gầy gò, không còn chút hơi thở nào.
Trên chiếc bàn bên cạnh, có một bức thư nhỏ di nương để lại cho nàng.
Trên trang giấy Tuyên Thành đã ố vàng, nét chữ rất dịu dàng:
“Tuyết ở Trường An lạnh quá, mỗi mùa đông đều rét buốt thấu xương. Đoàn Nhi, hãy đưa a nương đi, chúng ta cùng đến Giang Nam nhé.”
Nàng không có thời gian đọc thư.
Luống cuống dựng chiếc ghế đẩu bị ngã bên cạnh dậy, trèo lên, muốn ôm di nương xuống.
Nhưng sức nàng quá yếu, chiếc ghế lại liên tục lung lay. Trong lúc hoảng loạn, dù đã ôm được di nương xuống, nhưng chính nàng lại hụt chân, ngã thẳng xuống đất.
Nàng theo phản xạ che chở cho thân thể di nương, tay ghì chặt lấy cổ người, không muốn để di nương bị ngã.
Khoảnh khắc cảm giác lạnh lẽo truyền đến từ đầu ngón tay, nước mắt nàng cũng ồ ạt tuôn rơi, hồi lâu vẫn chưa thể phản ứng lại.
Thân thể của di nương… sao lại… lạnh như vậy chứ?
Những giọt lệ nóng hổi trào ra khỏi mi, nàng hoảng hốt bò dậy, ôm di nương vào lòng, ngơ ngác gọi:
"Di nương, di nương… Di nương..."
Nhưng dù nàng có gọi thế nào, di nương cũng chỉ mềm oặt ngã vào lòng nàng.
Tay bà vẫn rất mềm, eo vẫn rất mềm, chỉ là… tất cả đều lạnh lẽo.
Ánh nắng ngoài cửa sổ, theo cánh cửa đang rộng mở, chiếu vào trong phòng.
Mãi cho đến khi ánh nắng đầu xuân dần tắt, di nương trong lòng nàng vẫn không tỉnh lại.
Khương Hoạ ngơ ngẩn gạt những lọn tóc trên trán cho di nương, đôi mắt thất thần tuôn lệ.
Nàng… nàng không còn di nương nữa rồi.
…
Theo quy củ lúc bấy giờ, trưởng bối qua đời, tiểu bối phải thủ linh bảy ngày.
Khương Hoạ chưa từng lo liệu tang lễ, vì vậy ngay lập tức, nàng đến cầu xin tổ mẫu.
Trong phủ này, nếu còn có ai đối xử tốt với nàng và di nương, người đầu tiên Khương Hoạ nghĩ đến, chỉ có tổ mẫu.
Nhưng chưa kịp gõ cửa, thị vệ gác cổng đã vội nói:
“Tam tiểu thư, lão phu nhân hai hôm trước đã đến chùa Thiện Hỉ cầu phúc rồi ạ. Nếu Tam tiểu thư muốn tìm lão phu nhân, có lẽ phải đợi vài ngày.”
“Vài ngày… vậy là mấy ngày?”
Thi thể của di nương sao có thể chờ đợi?
Trong lúc hoảng loạn, nàng nắm lấy tay thị vệ. Khi nói những lời này, hốc mắt nàng đỏ hoe tựa như muốn khóc ra máu, hoảng loạn đến cực điểm.
Thị vệ thấy vậy liền có chút hoảng sợ, nói năng cũng có phần lắp bắp:
“Có lẽ phải bốn năm ngày… Tam tiểu thư nếu thật sự gấp gáp, có thể gửi thư qua đó. Chỉ là… chỉ là lần này lão phu nhân hẹn cùng Thanh Ngọc trưởng công chúa… e… e là sẽ không về kịp.”
Đầu óc Khương Hoạ rối bời.
Từ lúc nhìn thấy di nương tự vẫn, nàng chỉ dựa vào một chút hơi sức để suy nghĩ và hành động.
Thị vệ nói như vậy, tức là mấy ngày tới tổ mẫu sẽ không về.
Tổ mẫu không về… nàng còn có thể tìm ai?
Nha hoàn Hiểu Xuân bên cạnh lo lắng nhìn Khương Hoạ, chỉ sợ nàng không biết lúc nào sẽ ngã quỵ xuống đất.
Khương Hoạ đứng trước sân của tổ mẫu, ngơ ngác nhìn con đường đan xen phía trước.
Đi về phía tây, là sân của phụ thân.Nhưng người đó… thật sự có thể gọi là phụ thân sao?
Ông ta đã sáu năm không đến thăm di nương và nàng.
Đi về phía đông, là sân của Liễu bá nương – người chưởng quản việc nhà trong phủ.Nhưng những năm qua, Liễu bá nương vì muốn lấy lòng Nhị tỷ tỷ, cũng ngày ngày chèn ép nàng và di nương.
Còn có thể tìm ai nữa?
Ngay cả người phụ thân đã nhiều năm không hỏi han đến nàng và di nương, hay là Liễu bá nương ngày ngày chèn ép hai mẹ con…So với những người khác trong phủ, vậy mà lại được xem là những người “hòa nhã” với nàng rồi.
Vành mắt Khương Hoạ bỗng đỏ lên.Dường như bao tủi hờn của mười mấy năm qua, vào giây phút này bỗng chốc vỡ òa.
Khương phủ rộng lớn như vậy… sao nàng… sao nàng lại không tìm được một người nào có thể giúp mình?
Nàng hoảng hốt nhìn quanh.Bỗng như nghĩ ra điều gì đó, trong ánh mắt lo lắng của Hiểu Xuân, nàng vội chạy về phía sương phòng ở hướng nam.
Sương phòng phía nam là nơi ở của khách quý trong Khương phủ.Một trong số đó, là nơi ở của vị Thừa tướng trẻ tuổi nhất đương triều — Tạ Dục Vãn.
Hắn là bằng hữu đồng môn của huynh trưởng.Sau khi tân hoàng lên ngôi, hắn được phong làm Thừa tướng, được đặc cách cho nghỉ ba tháng.
Phủ Thừa tướng vẫn đang trong quá trình tu sửa, nên hắn tạm thời ở nhờ trong Khương phủ.Vừa hay phu tử của học đường trong Khương gia về quê, huynh trưởng năn nỉ mãi, Tạ Dục Vãn mới nhận lời tạm thay chức vị phu tử.
Lần trước di nương bệnh nặng, nàng đã cầu xin khắp nơi trong phủ mà không tìm được đại phu.Cuối cùng, còn nước còn tát, nàng cầu đến trước cửa phòng Tạ Dục Vãn.
Hắn biết chuyện, lập tức cho đại phu bên người đến khám bệnh, cứu sống di nương.
Ý nghĩ này… tuy rất hoang đường, rất đường đột, rất không hợp lễ nghi…Nhưng lúc này, Khương Hoạ đã không nghĩ được nhiều như vậy nữa.
Thi thể của di nương vẫn còn nằm trên giường.Trì hoãn thêm một ngày… xương cốt của bà sẽ phải chịu thêm một phần giày vò.
...Có thể để di nương được chôn cất như một người bình thường.
Dừng lại trước sương phòng, Khương Hoạ cũng không màng đến vẻ hoảng loạn của mình, tiến lên một bước.Nàng co ngón tay lại, hoảng hốt gõ cửa.
Khoảnh khắc nhìn thấy không có ai canh giữ trước cửa, nàng mới sực nhớ ra — mấy ngày nay học đường nghỉ, chính là vì Tạ Dục Vãn có việc ra ngoài.
Bây giờ mới qua hai ngày… liệu hắn đã về chưa?
Ngay lúc nàng đang hoảng loạn suy nghĩ, cửa đột nhiên mở ra, người bước ra là một nha hoàn xa lạ.