04
Tàu hỏa đến thị trấn nhỏ phía Tây Bắc vào lúc hai giờ sáng.
Cổng ra vắng tanh, tĩnh đến mức có thể nghe rõ tiếng vọng lại.
Dưới ánh đèn trắng lạnh lẽo, chỉ lác đác vài nhân viên mặc đồng phục đang trực ca, cùng mấy người đứng đón thân nhân ngồi co ro ở góc tường, gật gù trong cơn buồn ngủ.
Tôi kéo vali, lững thững theo dòng người thưa thớt bước ra ngoài.
Tháng Chín còn chưa chính thức đến, nơi này đã nổi gió.
Gió mang theo cái khô và gai góc đặc trưng của vùng Gobi, quét theo bụi cát, quất lên mặt đau rát.
Tôi kéo sát chiếc áo khoác mỏng, đang phân vân có nên tạm tá túc một đêm rồi đợi sáng mai mới đến trường thì bỗng nhìn thấy tấm biển hiệu của trường trong một góc khuất.
Vài đàn anh đang dựa vào nhau ngủ gật, bên cạnh lại có một người đàn ông trung niên, mặc bộ đồ tôn trung sẫm màu được là phẳng phiu, tóc chải ngược không lệch một sợi, tay cầm tấm giấy A4 viết bằng bút lông đen đậm:
“Tân sinh viên khoa Kỹ thuật Đạn dược Lượng tử – Sở Thiên Thư.”
Cách viết này hoàn toàn khác biệt với những biển tên của các khoa khác.
Tôi khựng lại.
Đang do dự không biết có nên bước đến hay không thì người đàn ông ấy đã chú ý đến tôi.
Ông ta móc ra một thứ giống ảnh, nhìn tôi đối chiếu kỹ lưỡng, rồi cao giọng hỏi:
“Em là Sở Thiên Thư đúng không?”
Tôi nhìn ông ta đầy cảnh giác.
Khí chất của người này… không giống giáo viên hay tài xế bình thường chút nào.
Dáng đứng thẳng tắp, ánh mắt sắc bén, trông cứ như nhân vật tầm cỡ nào đó.
Chưa kịp lên tiếng, ông ta đã nở nụ cười.
Liên tiếp đưa ra chứng minh thư và thẻ công tác để xác nhận thân phận, sau đó đánh thức mấy đàn anh đang ngủ lăn lóc kia dậy.
Trong số đó còn có một cô gái.
Họ đều gọi ông ta là Trưởng ban Bạch.
Không ai hỏi tôi có cần giúp mang hành lý không, mà chủ động xách luôn chiếc vali cũ kỹ của tôi, mang lên chiếc xe buýt dùng để đón sinh viên ở ngoài ga.
Lên xe rồi tôi mới biết, mấy người đó đều là đàn anh đàn chị thuộc Hội sinh viên được phân công ra ga đón tân sinh viên.
Tuy nhiên, chỉ có Trưởng ban Bạch là cùng khoa với tôi.
Chính xác mà nói, ông ấy đến đây chỉ để đón riêng tôi.
Vì tôi là tân sinh viên duy nhất của khoa này trong suốt ba năm qua.
Tôi không khỏi ngỡ ngàng.
Xe khởi hành, lặng lẽ trượt vào màn đêm.
Tuy không nhìn rõ ngoài cửa sổ, nhưng tôi vẫn cảm nhận được—nơi này khác hoàn toàn với quê hương tôi.
Không có những cơn gió ẩm ướt, không có tường trắng mái xám, không có cầu nhỏ nước chảy.
Ngay cả hình dáng của cây cối nơi đây, cũng mang một vẻ khô cằn và hoang dã hơn.
Sau khoảng hai mươi phút, xe dừng trước một tòa nhà ba tầng.
Tòa nhà cũ kỹ, tường ngoài loang lổ, trước cửa treo một tấm biển bạc màu, ghi: “Nhà khách Đông Phong”.
Tôi được sắp xếp ở lại đó.
Chiếc đệm dày êm ái, mềm mại dễ chịu.
Có nước nóng suốt hai mươi tư giờ, tôi liền tắm một trận thật sảng khoái, mọi mệt mỏi gần đây như được gột rửa sạch sẽ.
Cô chú trực ở quầy lễ tân thậm chí còn mang cho tôi một tô mì nóng hổi.
Không phải hương vị tôi quen thuộc, nhưng cay cay thơm thơm, khiến cái lạnh trong người lập tức tan biến.
Nhìn ra màn đêm mịt mùng ngoài cửa sổ, tôi chợt thấy tất cả cứ như một giấc mộng không thật.
Tôi không có điện thoại, chỉ dùng máy tính bảng để kết nối mạng.
Nhưng trên WeChat, ngoài những bạn học đang lần lượt báo danh khắp nơi, chẳng còn bất kỳ tin nhắn nào khác.
Có điều, có lẽ là vì đã không còn trông đợi gì nữa, nên lòng tôi cũng chẳng dậy lên cảm xúc gì.
Tôi tắt máy, ngủ một giấc đến sáng.
Bảy giờ, dưới sự chỉ dẫn của cô lễ tân, tôi xuống nhà ăn dùng bữa.
Trưởng ban Bạch cũng vừa đến.
Đi theo ông ra khỏi nhà khách, tôi cuối cùng cũng có cơ hội hỏi điều mình chưa kịp hỏi tối qua:
“Trưởng ban Bạch, hôm qua các anh chị kia nói, em là tân sinh viên duy nhất của khoa mình?”
“Là duy nhất trong ba năm qua.” Ông mỉm cười chỉnh lại.
Vẫn không ngại giúp tôi xách chiếc vali cũ nát và cuộn chăn.
“Là vì khoa này ít người chọn à?”
“Ừ, ít người chọn, lại yêu cầu điểm số cao. Không biết vì sao em lại đăng ký vào ngành này, nhưng… chúng tôi thật sự rất vui.”
“...”
Cũng phải thôi.
Cuối cùng cũng có một kẻ “dại dột” tự nguyện dấn thân.
Có lẽ đoán được tôi đang nghĩ gì, Trưởng ban Bạch bật cười:
“Em có thể thử nghĩ xem, vì sao ba năm liền không tuyển được người, nhưng chúng tôi vẫn chưa hủy bỏ ngành học này?”
“Vì vẫn cần thiết.” Tôi buột miệng.
“Vậy tại sao không hạ điểm chuẩn?”
“Vì… không thể.”
Vì ngành học này đòi hỏi năng lực chuyên môn rất cao.
Điểm số, chỉ là cánh cổng đầu tiên mà thôi.
Trưởng ban Bạch càng cười rõ hơn, trong mắt ánh lên vẻ tán thưởng.
Lòng tôi chợt dậy lên một chút cảm giác khác thường—lần đầu tiên, tôi thấy mình có chút mong chờ đối với ngành học này.
05
Trưởng ban Bạch đích thân dẫn tôi đi làm thủ tục nhập học.
Không rõ vì lý do gì, tôi được phân vào một phòng ký túc xá riêng.
Vừa đặt hành lý và chăn màn vào phòng, ông ấy không để tôi nghỉ ngơi, mà lập tức đưa tôi đến tòa nhà thí nghiệm của trường.
Tòa nhà nhìn bên ngoài chẳng có gì đặc biệt, nhưng khi bước qua cánh cửa có kiểm soát tầng bảy, một thế giới hoàn toàn mới hiện ra trước mắt tôi.
Khoảnh khắc đó, tôi gần như tưởng mình đã xuyên không.
Không gian hình vòng khổng lồ, cao ít nhất hai mươi mét.
Trần nhà là ánh sáng giả lập mềm mại như bầu trời thật, bốn phía là hành lang vòng cung và các phòng thí nghiệm bằng kính trong suốt xếp thành từng tầng.
Thứ khiến người ta choáng ngợp nhất là thiết bị đặt ở chính giữa—một cỗ máy khổng lồ cấu thành từ vô số ống dẫn, cuộn cảm và kết cấu kim loại bạc, lặng lẽ đứng đó trong trung tâm hình tròn, phát ra ánh sáng xanh lam nhè nhẹ.
Không khí mang theo một mùi hương rất đặc trưng: mùi ozone, chất làm mát, và một thứ gì đó… giống như mùi ion hóa sau cơn mưa—tôi không biết phải gọi tên thế nào.
“Đây là khu thực nghiệm chính của ‘Alpha’,” giọng Trưởng ban Bạch có chút kính cẩn khó nhận ra, “là một trong những cơ sở nghiên cứu trọng điểm của quốc gia về năng lượng lượng tử.”
“Ngành kỹ thuật đạn dược lượng tử hiện tại chưa có giáo trình chính quy, cũng không có thời khóa biểu cố định. Lộ trình đào tạo của em là ‘một kèm một’, thậm chí là ‘nhiều kèm một’.”
“Dự án này có mười bảy nhà nghiên cứu chủ chốt, tất cả đều có thể trở thành cố vấn của em. Nhưng sẽ có một người là người phụ trách chính.”
Ông dẫn tôi đi qua hành lang vòng, đến trước một cánh cửa kim loại dày nặng.
Cửa tự động mở ra, một ông lão tóc bạc rối bời, râu ria lơ thơ, đeo kính gọng đen dày cộm, mặc quần áo công nhân màu xanh đã giặt bạc màu, tay cầm một chiếc cốc tráng men bốc khói nóng.
Nhìn thế nào cũng không giống một nhà khoa học đầu ngành, mà giống như bác thợ điện – nước của phòng hậu cần.
“Em Sở Thiên Thư, để tôi giới thiệu: đây là Viện sĩ Bộ Thanh Vân, từ giờ ông ấy sẽ là người phụ trách chính của em.”
“Vào đi, phòng hơi bừa một chút, đừng ngại.”
Bộ Thanh Vân cười hiền hậu.
Phòng quả thật rất lộn xộn.
Ba bức tường là giá sách cao tận trần, chất đầy sách, bản vẽ và những mô hình linh kiện kỳ dị.
Bức tường còn lại là bảng trắng cỡ lớn, chi chít những công thức và sơ đồ tư duy viết tay, nét chữ nguệch ngoạc như thư pháp thảo.
Ở giữa phòng là bàn làm việc rộng lớn, bày la liệt mạch điện, máy hiện sóng, vài kết cấu cơ khí đang tháo dở, và… một chậu xương rồng.
“Ngồi đi, tùy ý.”
Bộ lão tiện tay đặt chiếc cốc tráng men lên bàn, kéo một cái ghế xếp ra cho tôi.
Trưởng ban Bạch đã sớm biết điều, lặng lẽ rút khỏi phòng.
Ông Bộ không vội nói chuyện, cầm lấy máy tính bảng, vuốt vài cái, mở ra một giao diện rồi đưa tôi.
“Xem cái này trước.”
Trên màn hình là một đoạn hoạt hình mô phỏng: mô hình nguyên tử đơn giản hóa, điện tử xoay quanh quỹ đạo.
Sau đó, một tác động nào đó xảy ra, trạng thái điện tử đột nhiên trở nên bất định và đồng thời phát ra một luồng năng lượng dạng xung.
Đoạn hoạt hình phát lại nhiều lần, mỗi lần là một kiểu tác động khác nhau.
“Cái này là gì vậy ạ?” Tôi không kìm được hỏi.
“Là nguyên lý cơ bản và lý tưởng nhất của đạn dược lượng tử.”
Bộ lão nói:
“Vũ khí truyền thống, dù là thuốc súng hay bom hạt nhân, về bản chất đều là giải phóng năng lượng ở cấp độ vĩ mô.
Nhưng thế giới lượng tử thì khác.
Ở cấp độ lượng tử, hạt có thể đồng thời tồn tại ở nhiều trạng thái, có thể xuyên qua những rào cản tưởng chừng không thể vượt qua, có thể lập tức tạo nên liên kết với một hạt ở cách xa hàng trăm cây số.”
Nói rồi, ông vuốt màn hình, chuyển sang một loạt hình ảnh khác: đồ thị sóng phức tạp, phân bố xác suất, và những biểu thức toán học mà tôi hoàn toàn không hiểu nổi.
Tôi cố gắng tiêu hóa những gì ông nói.
“Vậy… đây không phải là chế tạo vũ khí mới, mà là học cách kiểm soát những ‘thùng thuốc súng lượng tử’ vốn đã tồn tại sẵn?”
Bộ lão bật cười, nếp nhăn nơi khóe mắt giãn ra:
“Nói ví von rất hay. Nhưng chính xác hơn thì—chúng ta học cách hiểu các quy tắc của thế giới lượng tử, rồi trong giới hạn những quy tắc đó, thiết kế ra phương án giải phóng năng lượng hiệu quả nhất.”
Ông đứng dậy, bước đến bảng trắng, cầm bút dạ và bắt đầu trình bày kế hoạch đào tạo dành riêng cho tôi.
Mức độ chi tiết của kế hoạch ấy—là điều mà ngay cả trong mơ tôi cũng chưa từng nghĩ đến.
Bởi vì, với dự án nghiên cứu tiên phong này, trong thế hệ lãnh đạo đầu tiên có thể ứng dụng công nghệ đó—rất có thể sẽ có cả tôi.
Ngoài Bộ viện sĩ là người phụ trách chính, các giáo sư phụ trách giảng dạy cho tôi còn có: ba viện sĩ khác, năm nhà khoa học trẻ xuất sắc, và vài người tên tuổi không thể công khai nhưng thành tựu đủ để ghi danh lịch sử.
Họ sẽ truyền lại cho tôi tất cả những gì đã học trong đời.
Còn tôi, chính là người kế thừa mà họ đã chờ đợi suốt bao năm qua.
Trong phòng quan sát, những thiết bị phát ra tiếng ù ù đều đều.
Tôi cầm bản kế hoạch đào tạo dày cộp trong tay, lòng bàn tay hơi đổ mồ hôi.
Lúc này tôi mới chợt nhận ra—mình không phải bị đẩy vào đường cùng.
Ngược lại, tôi đã bước vào một mảnh đất lành.
Tương lai, có thể chỉ một câu nói của tôi, một bản đánh giá của tôi, cũng đủ ảnh hưởng đến các quyết sách ở cấp quốc gia.
Đây không phải là con đường vừa dễ dàng vừa hái ra danh lợi, mà là một hành trình đầy gian khó—nhưng ở cuối con đường ấy, rất có thể là cả một bầu trời sao và đại dương rộng lớn.
Căn phòng dần trở nên yên ắng, ánh đèn dịu nhẹ rơi xuống mặt bảng trắng.
Một lúc sau, tôi chậm rãi ngẩng đầu, đối diện ánh mắt của thầy Bộ.
“Em đồng ý.”
Giọng tôi không lớn, nhưng rất rõ ràng.
Ông nhìn tôi vài giây, rồi nở nụ cười thật sự đầu tiên trong ngày hôm nay.
“Tốt.” Ông đứng dậy, đưa tay ra:
“Vậy thì, chào mừng em, Sở Thiên Thư.”
“Từ hôm nay, em chính là học trò của tôi.”
Bàn tay ông ấm áp, rắn rỏi, mang theo những vết chai do năm tháng miệt mài trong phòng thí nghiệm.
Chưa kịp để tôi phản ứng, ông đã buông tay ra, chỉ về đống sách chất cao như núi ở góc bàn làm việc:
“Mấy ngày đầu nhập học cũng chẳng có gì đáng làm, em đừng phí thời gian vào mấy việc vặt.
Dành thời gian đọc hết chỗ sách này đi.
Nhưng cấm thức khuya, phải đảm bảo ngủ đủ.
Ở đây, một cái đầu tỉnh táo còn quan trọng hơn bất cứ thứ gì.”
Tôi nhìn đống sách ấy, khóe miệng không nhịn được khẽ co giật.
Gắng gượng vác cả đống sách ấy về ký túc xá, nỗi sợ mơ hồ về tương lai dường như đã tan biến hoàn toàn từ lúc nào chẳng hay.
Ba mẹ à, con phải cảm ơn hai người.
Cảm ơn sự thiên vị của hai người, đã khiến cuộc đời con rẽ sang một con đường hoàn toàn khác với mọi kế hoạch ban đầu.
06
Làm đúng như lời thầy Bộ dặn, tôi tự lập cho mình một thời gian biểu nghiêm ngặt.
Ngoài việc ăn ngủ cơ bản, toàn bộ thời gian còn lại tôi đều vùi đầu vào đống sách dày cộp kia.
Chẳng mấy chốc, đã gần hai tuần trôi qua.
Lũ tân sinh viên các ngành khác nhập học cùng thời điểm cũng dần ổn định, không còn háo hức đi khám phá khắp nơi nữa.
Tôi cõng đống sách trở lại văn phòng thầy Bộ, bắt đầu trả lời các câu hỏi thầy đưa ra, đồng thời nhờ thầy giải đáp những thắc mắc của mình.
Tôi đắm chìm trong biển kiến thức, lần đầu tiên trong đời thấy nhẹ nhõm đến vậy.
Thế nhưng, tất cả bị phá vỡ vào một buổi chiều thứ Ba, hai tháng sau đó.
Trưởng ban Bạch mồ hôi đầm đìa lao vào văn phòng, lần đầu tiên quên cả chào hỏi thầy Bộ, vội vàng mở miệng:
“Em Sở, dạo gần đây em không liên lạc với gia đình à?”
Tôi sững người, lúc này mới nhớ ra—đúng là mình chưa từng liên lạc gì với nhà.
Nhưng… tôi không có điện thoại.
Chiếc máy tính bảng mà Lâm Tuế Duyệt cho tôi dùng tạm đã bị sập nguồn hẳn từ mấy hôm trước.
“Đi theo tôi một chuyến, có việc cần xác minh, mong em phối hợp.”
Tôi đành đi theo ông, mà điểm đến lại là phòng an ninh của trường.
Không khí trong phòng nặng nề.
Mấy vị trưởng ban ai nấy đều mặt lạnh như tiền, người thì nhíu mày, người thì ngồi im không nói một lời.
Ngoài ra còn có một phụ nữ trung niên mặc đồng phục hành chính của trường—tôi không quen—vẻ mặt vô cùng khó xử.
Trưởng ban Bạch kể lại toàn bộ tình hình của tôi, căn phòng lập tức rơi vào một sự im lặng ngượng ngùng đến khó chịu.
Có người thở dài, xoa trán, lên tiếng:
“Sở Thiên Thư, bố mẹ em—Lâm Mặc Hoài và Vương Chi Uẩn—sáng hôm qua đã gọi điện trình báo với công an địa phương. Họ nói rằng kể từ khi em nhập học đến nay, gia đình mất hoàn toàn liên lạc, nghi ngờ em gặp chuyện bất trắc hoặc bị một tổ chức phi pháp nào đó khống chế.”
Tôi chết sững.
Máu dồn lên não, rồi nhanh chóng rút đi, chỉ còn lại cảm giác buốt lạnh của nỗi nực cười.
“Họ nói…”