“Nhưng xem như hắn cũng làm được một việc tốt. Nếu không có hắn, cả đời này ta chắc vẫn là kẻ cô gia quả nhân.”
Chưa thấy đủ, hắn còn đè thêm vào đó một tờ khế đất mỏ sắt.
Ta nhìn cảnh ấy, trong lòng nhất thời không biết nên chua xót hay nên bật cười.
Còn việc vào Kiến Khang có đụng phải Tạ Bùi hay không, ta cũng không lo lắng. Triệu Diễm đã dám nói, ắt có thể bảo vệ ta và A Việt. Huống chi nói cho cùng, Tạ Bùi sắp thành thân — người nên tránh né, lẽ ra là hắn.
Vậy là nhổ trại khởi hành.
Cổng thành phòng vệ nghiêm ngặt. Không biết có phải ảo giác của ta hay không, nhưng họ đặc biệt chú ý tới phụ nữ và trẻ nhỏ, bắt từng người phải ngẩng mặt lên để so đối tra xét.
Chỉ là Triệu Diễm là sứ thần, lại mang cái danh tiếng khiến người khinh ch.ó ghét, ai nấy đều sợ, nên chỉ kiểm tra qua loa rồi cho đi, đến cả người ngồi trong xe cũng chẳng liếc nhìn.
Triệu Diễm đã là chủ đất Triệu, uy danh vang xa, đến người Hồ cũng phải kính xưng một tiếng tướng quân. Ai ngờ vào tới Kiến Khang, chỉ có vài viên quan ra đón. Sĩ tộc tự cho mình cao quý, không một ai nghênh tiếp.
Lẽ ra phải là một đường thông suốt.
Nào ngờ xe ngựa bị vây lại, xung quanh ồn ào hẳn lên, chỉ nghe mấy viên quan kia cúi mình nịnh nọt gọi:
“Tạ Đô Đốc.”
A Việt lập tức nhìn sang ta.
Ta cúi mắt, nhưng bàn tay trong tay áo đã siết c.h.ặ.t.
Rồi một giọng nói lạnh lẽo vang lên:
“Triệu tướng quân, tiếp đón chậm trễ.”
Trong hơn một năm trốn chạy, ta từng nhiều lần nhớ tới giọng nói này.
Có lúc là khi cõng A Việt chạy trốn quân Hồ ngã dúi trong bùn lầy; có lúc là khi nhìn A Việt đói đến mức phải ăn quan âm thổ, ta vừa khóc vừa tự trách — ta từng ảo thính, tưởng như nghe thấy Tạ Bùi gọi ta là A Phạn, liền vui mừng ngẩng đầu.
Dĩ nhiên… chẳng có gì cả.
Rèm xe lay động, qua khe hở có thể thấy bóng lưng Triệu Diễm. Hắn cười nửa âm nửa dương:
“Hóa ra ngươi chính là Tạ Thập Tam à, quả nhiên phong tư bất phàm.”
Lời lẽ vô lễ, mọi người đều ngoái nhìn.
Chỉ có Tạ Bùi là thần sắc và giọng nói đều không đổi. Nhưng điều hắn hỏi lại là chuyện khác hẳn:
“Một năm trước, khi sĩ tộc nam độ gặp phải quân Hồ, đa tạ tướng quân ra tay giúp đỡ. Nghe nói tướng quân từng đích thân tới bến độ, có từng thấy một nữ t.ử và một hài đồng tám tuổi hay không?”
Tiếng cuộn tranh mở ra vang lên.
Triệu Diễm cười:
“Một năm trước ta chỉ là tình cờ đi ngang. Đám Hồ nhân nghe thấy tên ta liền bỏ mũ giáp mà chạy, sao gọi là ra tay giúp đỡ. Khi ta tới nơi, người đã c.h.ế.t sạch. Đất đầy t.h.i t.h.ể, còn có một nửa nhảy xuống sông, chỉ để lại y quan trên bờ. Còn người sống — chưa từng thấy.”
Xung quanh im lặng.
Chỉ nghe qua lời nói, đã có thể tưởng tượng ra cảnh tượng t.h.ả.m liệt.
Thê t.ử và con thơ mà Tạ Đô Đốc tìm kiếm hơn một năm e rằng đều nằm trong đống xương trắng ấy. Nay đã có câu trả lời xác thực, mọi người rối rít khuyên:
“Đô Đốc xin nén bi thương.”
Tranh cuộn lại.
Tạ Bùi thản nhiên nói:
“Vợ ta chưa c.h.ế.t, con ta cũng không sao, cần gì nén bi thương. Nàng so với người khác xảo quyệt gian trá gấp trăm lần, giỏi nhất là tự bảo toàn — ai c.h.ế.t cũng chưa tới lượt nàng.”
Lời nói lạnh nhạt, nhưng rõ ràng ẩn chứa một sự cố chấp.
Không ai dám nói thêm.
Chợt có người cười khẽ — Triệu Diễm lên tiếng:
“À, hóa ra tình sâu đến thế. Vậy sao nghe nói lúc vượt sông, Đô Đốc lại để thê t.ử và hài t.ử ở lại đợt thứ hai? Thật là kỳ lạ.”
Lập tức có kẻ bất mãn, quát lên:
“Ngươi là nửa người Hồ thì biết gì về dụng tâm của đô đốc! Thuyền không đủ, nếu Đô Đốc không để thê t.ử và con thơ ở lại, ai chịu nhường cho đợt hai? Trước khi lên thuyền đã đ.á.n.h nhau rồi, thời gian gấp gáp, lỡ toàn quân bỏ mạng thì Trung Nguyên ngàn năm chính thống chẳng phải sẽ đoạn tuyệt tại đây sao? Ai ngờ lại có một cánh quân Hồ tới đây!”
“Im miệng.”
Tạ Bùi hiếm hoi nổi giận, dường như không chịu nổi hồi ức ấy. Biết không hỏi thêm được gì, hắn quay người định rời đi.
Ngay khoảnh khắc xe ngựa chuẩn bị lăn bánh —
Hắn lại đột ngột quay đầu.
Ngoài rèm, vị lang quân phong thái vẫn như xưa. Hắn hỏi:
“Trong xe là ai, mà khiến Triệu tướng quân phải đích thân đ.á.n.h xe?”
Lập tức có binh sĩ đáp:
“Trong xe là thê t.ử và hài t.ử của Triệu tướng quân.”
Chưa từng nghe nói Triệu Diễm đã cưới vợ sinh con.
Cả đời hắn rất ít khi thất lễ. Mọi lần mất kiểm soát, đều chỉ xoay quanh một cái tên.
Hắn biết mình đã nghi kỵ đến mức cỏ cây cũng hóa binh. Nghe tới hai chữ “thê nhi” liền phát điên, nhưng không thể không làm vậy. Không tìm được người, sớm muộn hắn cũng sẽ tẩu hỏa nhập ma.
Mang theo hận ý chua chát, Tạ Bùi nói:
“Vén rèm.”
Người của Triệu Diễm cũng không phải hạng dễ bắt nạt.
Trong chớp mắt, tiếng đao kiếm tuốt vỏ vang lên đồng loạt. Triệu Diễm nói:
“Ta là sứ thần. Ngươi muốn xem thê t.ử và con ta là có ý gì? Không có vợ thì đi cướp của người khác à? Điên rồi sao?”
Hai bên giằng co, đao kiếm đối diện.
Không ai nhường ai.
Trong xe, lại vang lên một giọng nam đồng khàn lạ, đầy buồn ngủ:
“Cha ơi, khi nào tới nơi vậy? A nương mệt quá ngủ rồi.”
Mọi người vốn đã bán tín bán nghi.
Chỉ một câu này, liền khiến tất cả khẳng định Tạ Bùi lần này thật sự phát điên.
Người trong xe không thể là Tạ Việt.
Là con cháu Tạ thị, trong thời đại coi trọng môn đệ họ tộc nhất này, hắn tuyệt đối không thể gọi người khác là cha, lại còn là kẻ mang huyết thống Hồ nhân.
Thân phận khác nhau như trời vực, mà Tạ Việt lại không ngốc.
Huống chi trong số người có mặt, không ít là cận thần của Tạ Bùi — nghe ra đó không phải giọng của Tạ Việt. Họ vội vàng ngăn Tạ Bùi lại, tránh để hắn tiếp tục thất lễ.
Tạ Bùi đứng sững tại chỗ. Không biết phải tốn bao nhiêu sức lực, hắn mới nuốt xuống được vị tanh ngọt nơi cổ họng.
Rất lâu, rất lâu sau, hắn mới cười cô độc một tiếng:
“Ta thất lễ rồi.”
Triệu Diễm nói:
“Thê t.ử và hài t.ử của ta đều mệt rồi, xin đi trước một bước. Nhân tiện — chúc mừng Tạ Đô Đốc đại hôn trước.”
Ta nhắm mắt lại.
Cảm nhận sự xóc nảy của xe ngựa tiếp tục lăn bánh.
Tạ Bùi à Tạ Bùi,
nếu đã muốn thành thân, sao không vui vẻ cho trọn?
cớ gì còn truy tìm thê t.ử và con thơ năm xưa —
chỉ một chút áy náy, thật sự có thể dày vò ngươi đến mức này sao?
11
A Việt theo Triệu Diễm học võ, luyện đến mức quỷ khóc sói tru, sống sượng làm hỏng cả một giọng nói vốn rất hay. Ban đầu ta còn định chờ ít ngày để nó dưỡng lại.
Không ngờ lần này lại phát huy tác dụng.
Câu nói ấy là ta dạy nó nói, ta đoán chắc với ngạo khí của sĩ tộc, bọn họ nhất định sẽ không tiếp tục truy xét.
Huống chi —
dù cho Tạ Bùi thật sự nghe ra thì đã sao?
Tạ Bùi, ngươi dám thừa nhận rằng đứa trẻ trong xe chính là trưởng t.ử bị ngươi lạnh nhạt, bỏ rơi hay không?
Triệu Diễm đã thay toàn bộ người trong dịch trạm bằng thân tín của mình. Thiết giáp bộ khúc vây kín bốn phía, đến cả chim sẻ cũng không lọt vào được. Nhưng ta và A Việt vẫn phải vào trong phòng rồi mới dỡ mũ che mặt xuống.
Bên ngoài lại có đoàn cầu phúc đi qua.
Thì ra là vị hôn thê của Tạ Bùi — Lục Uyển, quý nữ của Lục thị Hà Đông, xuất tiền mời cao tăng, làm pháp sự siêu độ cho những sĩ tộc không kịp qua sông. Nàng mới tới Kiến Khang mấy ngày, mà trong thành đã vang khắp mỹ danh.
Mọi người đều nói, Lục nữ lang so với người vợ trước của Tạ Bùi còn lương thiện hơn.
Hành động ấy thoạt nhìn giống việc ta từng làm năm xưa, nhưng bản chất lại hoàn toàn khác.
Ta là dùng hết tâm cơ để mưu cầu gả cao, còn nàng vốn đã môn đăng hộ đối với Tạ Bùi, đâu cần làm vậy. Ta bật cười khẽ — hóa ra thứ nữ t.ử lương thiện mà Tạ Bùi muốn cưới, thật sự đã để hắn gặp được.
Đến chập tối, lại truyền tới tin tức: hôn sự giữa hai nhà Lục – Tạ tạm thời hoãn lại.
Nghe nói có một tiểu tốt giữ thành tự xưng từng nhìn thấy Tạ phu nhân và ấu t.ử mất tích vào ngày nghênh thân. Thế cục lập tức trở nên khó xử. Nữ lang của Lục gia đã tới rồi, may mà nàng quả thực hiểu chuyện, cam nguyện hạ thấp thân phận, cùng làm bình thê.
Lời đồn đủ kiểu.
Nhưng hôn kỳ kéo dài bao lâu cũng chẳng liên quan tới chúng ta. Triệu Diễm tới Nam triều là để bàn chính sự với tiểu hoàng đế, bàn xong là đi.
Đêm xuống, A Việt ngủ trước ở phòng bên.
Triệu Diễm ra ngoài, đến nửa đêm mới trở về.
Hắn tưởng ta đã ngủ, nhẹ tay nhẹ chân lên giường, ở giữa vẫn giữ một ranh giới rõ ràng.
Ta khẽ lên tiếng:
“Ngươi đã đi tìm ta?”
Ban ngày Tạ Bùi có nhắc tới — quân Hồ là bị hắn dọa chạy.
Triệu Diễm quay lưng về phía ta, nghiêng người đáp:
“Chỉ tiện đường.”
“Đất Triệu cách bến Trường Giang ấy ít nhất mấy trăm dặm, ngươi tiện đường kiểu gì?”
Triệu Diễm không giữ được thể diện, cười gượng:
“Là ta hèn hạ. Tin tức các người nam độ truyền tới chỗ ta, biết ngươi đã có lang quân, có con, ta vốn không định tới. Nhưng nghĩ lại — ta biết, vậy kẻ có mưu đồ khác thì sao. Rốt cuộc… vẫn đến chậm một bước.”
Nhớ lại cảnh tượng khi ấy, trong lòng hắn chỉ còn hối hận và sợ hãi ngập trời.
May mà…
Hắn lại cười lạnh:
“Không phải ngươi muốn trách ta đến muộn chứ? Quả nhiên hôm nay Tạ Bùi vừa lộ diện, ngươi liền đổi ý, kiếm cớ tìm ta phải không?”
Hắn còn chưa dứt lời.
Sau lưng bỗng ấm lên, Triệu Diễm lập tức cứng đờ.
Ta áp mặt vào bả vai hắn.
Ta nói:
“Không có. Đến vừa đúng lúc.”
Hôm đó ta và A Việt trốn dưới t.h.i t.h.ể, thật ra không hề kín đáo, suýt nữa đã bị quân Hồ phát hiện. Nếu không phải bọn họ đột nhiên tháo chạy, ta và A Việt căn bản không có cơ hội thoát thân.
Hóa ra, trong khoảnh khắc tuyệt vọng đến thế, đã có người vì ta mà tới.
Ta khẽ nói:
“Triệu Diễm, ta là kẻ không có chút chân tâm nào, không đáng để ngươi đối đãi như vậy.”
Ta g.i.ế.c thúc phụ, hại tộc tỷ; tiền ta dùng phát cháo bố thí là từ chợ đen cho vay nặng lãi mà có. Ta yêu vinh hoa, tìm mọi cách trèo cao. Cho đến nay, mỗi bước ta đi đều là vì chính mình.
Ta không cho rằng mình sai. Nhưng cũng hiểu — bất cứ ai thật sự biết rõ nội tâm ta, đều sẽ không còn hồ đồ.
Tạ Bùi chính là như vậy.
Triệu Diễm rõ ràng đã đi qua con đường sai lầm này, vì sao lại còn quay đầu?
Trong trướng chỉ còn tiếng hô hấp.
Triệu Diễm đột ngột xoay người, kéo ta vào lòng. Một tay đặt lên mắt ta — quả nhiên có lệ.
“A Phạn, nàng biết không — nàng giả khóc rất nhiều lần, nhưng chỉ khi khóc thật, mới không muốn để người khác phát hiện. Nàng nói mình không có chân tâm, không đáng — không tính. Ta có mắt, tự biết nhìn.”
Không phải là chưa từng hận.
Năm đầu tiên, hắn hận đến mất ngủ, đêm nào cũng văng vẳng câu ‘ngươi là thứ dân, ta là sĩ tộc, làm sao cưới gả’;
năm thứ ba, nghe tin nàng gả cao môn, tình chàng ý thiếp, hắn hận đến mức trên chiến trường g.i.ế.c thành Diêm Vương;
năm thứ năm, nghe tin Tạ gia có con nối dõi, trong lòng chỉ còn chua xót và mờ mịt.
Đến năm thứ mười, mấy lần sinh t.ử, hắn lại nhớ tới khi xưa — lúc bản thân còn trắng tay, cả tộc bị tàn sát, lưu lạc bốn bể.
Hắn lập chí phục quốc, bình loạn thế — ngay cả chính mình cũng chưa từng tin mình làm được.
Nàng lại chỉ mỉm cười nhạt, không chế giễu, chỉ bình thản chúc phúc:
“Nguyện quân rong ruổi mà lên, danh lưu sử sách. Ngày sau làm vương làm hầu, đừng quên ta.”
Quả thật nói đúng.
Rốt cuộc là lời chúc… hay lời nguyền?
Cả đời không quên được.
Mà đời người quá ngắn — hắn không nỡ dùng hết để hận.
Giờ còn gì không hiểu nữa?
Một người như Trần Phạn, lại nỡ để hắn rời đi, không phải vì hắn cản trở nàng trèo cao, mà là — chút chân tâm còn sót lại, nàng đều trao cho hắn.
Hiểu ra quá muộn, thành ra lỡ mất hơn mười năm.
Triệu Diễm siết c.h.ặ.t ta thật mạnh, thật mạnh:
“A Phạn của ta là một nữ lang rất tốt, chỉ là chưa từng được nhiều người đối đãi t.ử tế. Kiến Khang, Lạc Dương đều không phải nơi tốt. Đợi về đất Triệu, ta sẽ nuôi lại nàng từ đầu.”
Thời gian còn dài.
Có gì là không thể bù đắp?
Ta muốn cười một chút, nhưng khoảnh khắc ấy — lệ lại rơi nhiều hơn.
12
Hôn ước giữa hai nhà Tạ – Lục bị trì hoãn, song quý nữ Lục gia Lục Uyển lại chẳng hề tỏ ra tức giận, vẫn tiếp tục hành thiện tích đức trong thành Kiến Khang.
Thậm chí nàng còn không tiếc công sức giúp Tạ Bùi tìm kiếm người vợ kết tóc cùng đứa con thơ bị thất lạc.
Ai nhìn thấy cũng phải tán một câu: đúng là Bồ Tát sống.