Đêm ấy, quản gia vương phủ Lưu Phúc dẫn theo gia đinh, lấy cớ “kho phủ chật chội”, đem mười tám rương của hồi môn nhà Khương chuyển ra trang viên ngoại thành.
Khi những rương hòm va qua bậc cửa, tiếng chạm vang lanh lảnh, như từng cái tát quất thẳng vào mặt.
A Hạnh đuổi theo ra đến cửa nhị môn, khóc đến thở không ra hơi:
“Đó là bạc nhà Khương dành cho tiểu thư làm vốn cuối cùng. Bọn họ dựa vào đâu mà lấy?”
Ta tựa vào cột son nơi hành lang uốn khúc, vừa đếm hoa đèn vừa thong thả. Một đóa, hai đóa. Đến khi nổ tới đóa thứ bảy, ta mới khẽ mở miệng:
“Khóc cái gì. Chẳng qua là đổi chỗ cất kho.”
A Hạnh lau nước mắt:
“Nhưng đó là bạc mà!”
“Bạc là vật ch/ế/t, người mới là sống.”
Ta đưa tay hứng một giọt dầu đèn, lòng bàn tay nóng rẫy run lên, nhưng vẫn không nỡ buông,
“Tiêu Yến đã sợ ta tiền nhiều thế mạnh, vậy thì để hắn nhìn cho rõ, Khương Lê tay trắng cũng có thể xoay chuyển mây gió.”
Lời vừa dứt, tim đèn “tách” một tiếng, tia lửa bắn lên tay áo ta, đốt thủng một lỗ nhỏ.
Ta cúi đầu vê tắt tàn lửa, như đang bóp ch/ế/t một đoạn duyên cũ.
“A Hạnh, ngày mai ngươi về Khương phủ, mượn huynh trưởng một thứ.”
“Thứ gì ạ?”
“Sổ sách.”
Ta nheo mắt cười:
“Bảng kê chi tiết những khoản nh/i/ế/p chính vương phủ ba năm qua thay triều đình mua sắm trong cung. Một khoản cũng không được sót.”
A Hạnh hít mũi, lập tức nín khóc:
“Tiểu thư muốn tra sổ sao?”
“Không. Ta muốn tặng quà.”
Ta xoay người về phòng, vạt váy lướt trên nền gạch xanh, lặng lẽ như một con rắn trườn đi,
“Đem sổ đưa thẳng tới Ngự sử đài, để đám chó điên kia ngửi thử mùi bạc.”
Gió đêm lướt qua, ngoài tường viện vang lên tiếng canh. Ba hồi, chậm rãi mà nặng nề.
Ta ngoái đầu nhìn màn trời đen kịt, chợt nhớ đến đêm trước ngày xuất giá, phụ thân nhét chiếc bàn tính vào tay ta, nói:
“Nhà Khương có thể không có quyền, nhưng tuyệt đối không thể không có sổ.”
Khi ấy ta chưa hiểu. Giờ khắc này mới hay, sổ sách chính là dao, bút mực là lưỡi. Từng nét từng dòng, đều có thể rạch da xẻ thịt.
Tiêu Yến, ngươi đã sợ ta giàu, vậy thì để ngươi tận mắt thấy thế nào là “nghèo đến mức chỉ còn chứng cứ”.
Khi A Hạnh ôm sổ về, trời vừa sụp tối.
Nàng chạy một mạch, tóc mai ướt sũng, trông như vừa được vớt lên khỏi nước.
“Tiểu thư, đại thiếu gia nói…”
Nàng thở gấp đến không thành lời, chỉ hai tay dâng lên một chiếc hộp gỗ mun nhỏ,
“Nguyên… nguyên phong bất động, ngay cả lớp sáp cũng chưa tháo.”
Ta mở nắp hộp, mùi mực cũ hoà với hương long não xộc thẳng lên mũi. Một chồng sổ dày chừng ba ngón tay, trên bìa là hàng chữ tiểu khải:
“Sổ chi dùng Nh/i/ế/p chính vương phủ từ năm Nhâm Tý đến Ất Mão.”
Nét chữ là bút tích của huynh trưởng ta, cứng cáp như sắt khắc bạc chạm, tựa một lưỡi dao giấu trong giấy.
Đầu ngón tay ta khẽ lướt qua hàng chữ ấy, bỗng bật cười.
Tiêu Yến, có lẽ ngươi đã quên.
Bạc là Khương gia cho ngươi vay.
Mà sổ, cũng là Khương gia ghi cho ngươi.
Đêm ấy, tiểu trù trong vương phủ bỗng phát hoả.
Lửa khởi từ phòng chứa củi, nhờ gió đêm mà liếm sang trà phòng, phòng trực, cuối cùng thiêu sập nửa gian ngoại sổ phòng.
Trong phủ rối như nồi canh vỡ. Thị vệ, trưởng sử, thái giám, nha hoàn, người xách thùng, kẻ khóc gào, chạy loạn khắp nơi.
Ta khoác chiếc áo choàng màu nhạt, đứng dưới hành lang lầu thêu, lặng lẽ nhìn biển lửa.
A Hạnh hạ giọng:
“Tiểu thư, hỏa chiết ta đã ném dưới xà thứ ba, không ai trông thấy.”
Ta khẽ “ừ” một tiếng, ánh mắt dừng lại nơi rìa ngoài của đám cháy. Ở đó, Lưu Phúc đang ôm một rương gỗ cháy xém nhảy dựng lên. Nắp rương nứt toác, lộ ra nửa mảnh quan ấn màu đỏ.
Đó là “minh sổ” đối ngoại của vương phủ, cũng là cuốn sổ giả mà Tiêu Yến dùng để đối phó Tông Nhân phủ.
Thiêu nó đi, hắn mới biết thế nào là hoảng loạn.
Sáng hôm sau, trưởng sử quỳ ngoài điện ngủ, đầu dập xuống đất nghe “cộp cộp”.
“Vương gia, ngoại sổ phòng bị huỷ sạch. Việc thu mua cho thọ đản Thái hậu ba tháng nữa không còn chứng từ. Nếu Tông Nhân phủ lúc này tra sổ…”
Tiêu Yến chỉ khoác trung y, đứng trên bậc thềm, sắc mặt lạnh hơn cả lớp tuyết tàn nơi mái hiên.
“Đi, mời vương phi đến.”
Lần đầu tiên hắn dùng chữ “mời”, mà trong giọng lại phảng phất mùi binh gián.
Khi ta bước vào, hắn đang mân mê một chiếc chấn giấy ngọc đã vỡ.
“Đêm qua có hỏa hoạn, nàng biết chứ?”
“Biết.”
Ta khẽ phúc thân:
“Bị thiêu là minh sổ, phải không?”
Hắn ngẩng mắt lên.
Ánh mắt hắn sầm xuống, đen đặc như mực nhỏ giọt:
“Nàng biết bằng cách nào?”
Ta khẽ cười nhạt, rút từ tay áo ra một tờ giấy mỏng, đặt nhẹ lên án trước mặt hắn.
Đầu ngón tay Tiêu Yến khựng lại trên trang giấy trong khoảnh khắc, gân xanh nổi cuồn cuộn.
“Điều kiện.”
Giọng hắn khàn đặc.
Ta cụp mi, thổi nhẹ lớp bụi vốn không tồn tại:
“Thứ nhất, của hồi môn của ta, phải nguyên phong nguyên kiện chuyển về kho của ta. Thứ hai,”
ta ngẩng lên, nhìn thẳng vào mắt hắn,
“ta muốn chìa khóa nội sổ phòng của vương phủ, do chính ta nắm.”
Trong điện lặng đến đáng sợ. Canh lậu điểm một tiếng, rồi hai tiếng.
Rất lâu sau, hắn bật cười, nụ cười lại lạnh buốt:
“Khương Lê, nàng có biết uy h/i/ế/p bổn vương sẽ có kết cục thế nào không?”
Ta tiến lên nửa bước, đầu ngón tay đặt lên tờ giấy kia, như ấn thẳng vào yết hầu hắn:
“Vương gia, đốt sổ phòng chỉ là ‘hỏa hoạn’. Nhưng nếu cháy đến án thư của hoàng thượng, thì sẽ thành ‘khi quân’.”
“Nàng cược bổn vương không dám g/i/ế/t nàng?”
“Th/i/ế/p cược,”
ta hạ thấp giọng,
“vương gia không dám.”
Đêm ấy, ổ khóa nội sổ phòng của vương phủ được thay mới.
Khi chìa khóa rơi vào lòng bàn tay ta, nặng trĩu, vừa như một chiếc gông mới, vừa như một lưỡi dao mới.
A Hạnh hỏi khẽ:
“Tiểu thư, bước tiếp theo là gì?”
Ta mở cuốn ám sổ, ở khoảng trống cuối cùng, huynh trưởng đã viết sẵn một hàng chữ nhỏ:
“Lê nhi, dao đã trao cho muội rồi. Đừng vội chém. Hãy để bọn họ tự tay dâng chuôi dao cho muội.”
Ta khép sổ lại, đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ.
Tuyết tàn đã tan, xuân lôi còn chưa đến.
Nhưng ta biết, tiếng sấm đã cuộn lên trên trang giấy rồi.
Đêm ấy, thư phòng ngoại viện của vương phủ.
Ta thay dạ hành y, giấu trong tay áo bản cải tiến của lê tuyết hương. Hương đầu vẫn là mùi lê nhụy thanh ngọt, nhưng hậu vị đã thêm một tầng “túy lê”.