“Huynh trưởng, muội sẽ để thiên hạ biết rằng, Cửu vương đời này có thể bỏ bất cứ ai, chỉ riêng Lê nhi nhà họ Khương là hắn không thể.”
Huynh trưởng sững người trong một nhịp thở, rồi bỗng cười lớn, tiếng cười vang lên làm bầy quạ nơi góc mái giật mình bay tán loạn.
Hắn hiểu ta. Lê nhi không muốn trốn chạy, muốn thắng, muốn từng chút một mài nhục nhã thành vụn, rồi bắt đối phương tự nuốt lại.
Tháng Tư, vương phủ mở bách hoa yến. Một hồ nước xuân xanh biếc, xanh đến mức soi rõ cả bóng quỷ.
Dung Uyển Hề hẹn ta cùng “du thuyền thưởng sen”, nói những đóa bạch liên vừa nở như được đo ni cho ta, “ra khỏi bùn mà chẳng vấy bẩn”.
Ta khẽ cười nhạt, vẫn bước lên thuyền.
Nàng khoác sa y nguyệt bạch, bên tóc cài một đóa hải đường Tây Phủ, dáng liễu yếu theo gió, nâng chén kính ta:
“Tỷ tỷ, th/i/ế/p bệnh trong người khiến vương gia lỡ ngày hồi môn, nay dùng hoa nhưỡng này tạ tội.”
Rượu còn chưa chạm môi, nàng trượt chân, cả người lao thẳng về phía ta.
Nàng khẽ ngoắc đầu ngón tay về phía ta, thì thầm:
“Tỷ tỷ, xin lỗi nhé.”
Lời chưa dứt, nàng nắm chặt tay áo ta, ngửa người ra sau. “Tõm!”
Xuân hàn cắt da, nước lạnh như lưỡi dao.
Cả hai chúng ta cùng rơi xuống nước. Nàng thét lên, còn ta mím chặt môi, không phí sức.
Dung Uyển Hề như một con cá chép trắng, ôm chặt lấy ta, móng tay bấm sâu vào sau gáy, giọng nhẹ như ma thì thào:
“Tỷ tỷ đoán xem, vương gia sẽ cứu ai trước?”
Ngay khoảnh khắc kế tiếp, nàng ta bỗng buông tay, tự mình chìm xuống sâu hơn, tay áo nước xòe ra như một đóa độc liên.
Trên bờ lập tức rối loạn. Tiêu Yến nhảy xuống nước, ánh nhìn đầu tiên bắt gặp gương mặt tái nhợt của Dung Uyển Hề, đến cái nhìn thứ hai mới lướt qua ta, khi ấy ta đang một tay bám mạn thuyền, một tay đẩy nàng đang sặc nước lên boong.
Hắn lại đem hai chữ “thâm tình chuyên nhất” phô bày đến tận cùng, ôm lấy nàng trước, đến nhìn ta cũng chẳng buồn.
Ta leo lên boong, toàn thân ướt sũng, nơi ống tay áo còn hằn vết móng tay của Dung Uyển Hề.
Nàng tựa trong lòng Tiêu Yến, môi trắng bệch, mỏng manh như tuyết sắp vỡ.
Dung Uyển Hề run rẩy chỉ về phía ta:
“Tỷ tỷ… vì sao lại đẩy muội?”
Một câu nói, đóng chặt ta lên tấm bảng “độc phụ”.
Tiêu Yến giận dữ đến dựng tóc, từng sợi tóc còn nhỏ nước:
“Khương Lê, là nàng đẩy nàng ấy!”
Ta cụp mắt, vặn nhẹ ống tay áo ướt đẫm, giọng nói pha chút cười:
“Vương gia, nếu ta thật muốn nàng ta ch/ế/t, lẽ nào lại kéo cả bản thân xuống theo? Người đánh giá quá cao sự hi sinh vì người khác của ta rồi.”
Ta giơ tay lên. Chát!
Một cái tát giòn vang rơi thẳng lên mặt nàng ta.
“Cái tát này để ngươi nhớ,”
ta lắc lắc cổ tay, nước bắn tung tóe,
“đã dám lấy mạng mình ra cược, thì cược cho đến cùng, đừng nửa chừng lại buông tay.”
Khắp sân, đám nha hoàn bà tử sợ đến nín thở, đồng loạt quỳ rạp xuống đất.
Trong đáy mắt hắn, tia m/á/u cuộn trào như lớp rỉ sắt dâng từ đáy hồ:
“Độc phụ!”
Hai chữ ấy, xem như phán ta có tội.
Đêm ấy, ta bị phạt quỳ trong từ đường.
Gạch xanh thấm hơi lạnh, đầu gối từ đau đến tê, rồi dần mất cảm giác.
Trên án thờ bày linh vị liệt tổ nhà Tiêu. Ta chép “Nữ tắc” trăm lượt, bút lướt như rồng bay phượng múa, m/á/u theo đầu gối rịn ra, loang trên hai chữ “phụ đức” thành một đóa hồng nhỏ.
Ta vừa chép vừa khe khẽ ngân nga khúc tiểu điệu, giọng trong trẻo:
“Lê hoa tàn, xuân hồng rẻ, vương gia chê ta mệnh quá cứng…”
Ma ma trực đêm nghe mà da đầu tê dại. Sáng hôm sau truyền lời: Vương phi quỳ suốt một đêm, đã hóa điên.
Tháng Năm, hoàng hậu mừng thọ.
Trong ngoài hoàng thành đèn hoa rực rỡ, chỉ riêng ta khoác áo lụa nguyệt trắng, nơi tay áo thêu nửa cành lê trắng, tang khí trĩu nặng.
Yến tiệc trong cung, hoàng thượng ngự cao, thuận miệng hỏi:
“Cửu vương phi, bao giờ cho trẫm thêm một hoàng chất?”
Giọng không lớn, lại khiến cả Lân Đức điện lặng phắc.
Mệnh phụ tông thất, văn võ bá quan, đồng loạt nhìn về phía ta.
Có kẻ thương hại, có kẻ xem trò, có kẻ đã mài dao.
Ta đứng dậy, quỳ xuống ngay ngắn, giọng trong sáng:
“Tâu bệ hạ, th/i/ế/p phận mỏng. Vương gia chê th/i/ế/p dung mạo xấu xí, không chịu chung phòng.”
Cả điện tức thì im bặt.
Tiêu Yến siết chặt chén rượu, đầu móng tay bóp đến tái trắng, vách sứ “rắc” một tiếng, nứt ra đường chỉ mảnh.
Hoàng thượng thoạt sững người, rồi bật cười lớn, cười đến nghiêng ngả, ngay tại chỗ ban cho ta một cây ngọc như ý, nói mong rằng từ nay về sau ta việc gì cũng được như ý.
Ta tạ ơn, hai tay nâng cao quá đầu. Dưới ánh đèn, như ý toả ánh lạnh, như một chiếc gương trừ tà nho nhỏ, soi rõ từng tia thể diện trên gương mặt Tiêu Yến.
Đêm ấy, giờ Hợi còn chưa dứt, cửa phòng ta đã bị một cú đá hất tung.
Tiêu Yến mang theo mùi rượu và gió tuyết, một tay bóp chặt cằm ta:
“Khương Lê, nàng điên rồi sao? Dám khiến bổn vương trở thành trò cười cho thiên hạ!”
Ta lùi đến bên giường, rút cây trâm vàng, kề sát mạch cổ mình. Mũi trâm sắc bén, chỉ trong chớp mắt một giọt m/á/u lăn xuống, như nốt chu sa.
“Vương gia, người tiến thêm một bước nữa, th/i/ế/p huyết văng ba thước. Ngày mai Ngự sử đài sẽ dâng sớ luận tội người ‘bức tử chính phi’, tấu chương đủ chất kín Ngọ Môn.”
Hắn dừng lại. Ánh mắt cuộn trào như sóng vỗ ghềnh đá. Rất lâu sau, hắn bật cười lạnh:
“Được, nàng đủ tàn nhẫn.”
Ta khẽ bổ thêm một nhát:
“Th/i/ế/p chỉ là học để dùng. Chính vương gia dạy th/i/ế/p, làm nam nhân thì không độc không thành.”
Hắn xoay người bỏ đi, cánh cửa nện mạnh phát ra tiếng vang như sấm.
Ta nghe bước chân xa dần, lúc này mới buông trâm vàng, cả người trượt ngồi xuống đất, lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi.
A Hạnh lao vào, khóc đến tê dại:
“Tiểu thư, cổ người chảy m/á/u rồi!”
Ta lắc đầu, đưa ngọc như ý cho nàng:
“Cất kỹ đi. Đây là ‘bùa hộ mệnh’ do ngự ban. Có nó, trong thời gian ngắn Tiêu Yến chưa thể động đến ta.”
A Hạnh lo lắng:
“Nhưng tiểu thư đã đắc tội vương gia đến tận cùng rồi.”
Ta ngước mắt, nhìn ra ngoài sân sâu hun hút, ánh trăng trải dài như dải lụa:
“Đắc tội ư?
Không. Ta chỉ là hất tung bàn cờ, để hắn biết rằng, trên bàn cờ tướng, ngoài xe ngựa còn có tốt.”
Tháng Sáu, gió sen đưa hương.
Ngự y bắt mạch xong, cách tấm bình phong quỳ sụp trước Tiêu Yến:
“Chúc mừng vương gia, trắc phi đã mang thai, ước chừng bốn mươi ngày!”
Tin tức như mọc cánh, chưa đầy nửa chén trà đã lan khắp vương phủ.
Tiêu Yến đại xá trong ngoài, nô tài được thăng bậc, ma ma được thưởng bạc, đến cả con rùa già trọc đầu trong ao cũng được phong danh hiệu “Trấn Trì tướng quân”.
A Hạnh sốt ruột xoay vòng tại chỗ:
“Tiểu thư, nếu không tranh, vị trí thế tử thật sự sẽ rơi vào tay người khác!”
Ta vuốt nhẹ bụng dưới vẫn còn phẳng lặng, nụ cười thong thả:
“Gấp làm gì? Có con thì phải là do chính phi sinh ra.”
Tháng Bảy, nắng lửa nung vàng, viện của Dung Uyển Hề lại lạnh như giữa đông.
Một bát thuốc an thai vừa uống xuống, nàng đau bụng quặn thắt, đệm giường đỏ thẫm.
Tiêu Yến đá tung cửa phòng ta xông vào, mũi kiếm còn nhỏ giọt m/á/u, không biết là của ai.
“Khương Lê, nàng dám g/i/ế/t con của ta!”
Giọng hắn khàn đặc, như lưỡi dao cùn cưa xương.
Ta vén váy, quỳ thẳng người, sống lưng và nền gạch thành một đường thẳng:
“Th/i/ế/p oan uổng.”
Ngự y trước mặt mọi người, từ bã thuốc nhặt ra nửa cánh hồng hoa, sắc đỏ rực như ánh tà dương tàn.
Ta khẽ cười:
“Xin hỏi thái y, hồng hoa này là cặn còn sót sau khi sắc, hay là đã bị nghiền bột rồi rắc vào?”
Lão thái y sững người, lại cúi xuống ngửi kỹ, sắc mặt đổi khác:
“Bột nổi trên bề mặt, rõ ràng là bị trộn vào sau.”
Ta cúi đầu:
“Nếu vậy, xin cho tra xét tiểu trù của trắc phi.”
Khi mọi người chạy đến, nhũ mẫu thân cận của Dung Uyển Hề đang nhét một gói giấy dầu vào bếp lửa. Ngọn lửa liếm qua, còn sót lại nửa góc chữ “hồng”.
Mũi kiếm của Tiêu Yến lập tức đổi hướng. Nhũ mẫu kia dập đầu liên hồi:
“Là trắc phi sợ thai vị không ổn nên… nên lén giấu hồng hoa, định dời họa sang người khác.”
Lời còn chưa dứt, đã bị một kiếm phong hầu.
M/á/u bắn lên tay áo Tiêu Yến, như một đóa tường vi tàn.
Khi mũi kiếm lần nữa chỉ về phía ta, đã cách cổ họng ta không quá một tấc:
“Nếu Uyển Hề có mệnh hệ gì, nàng chôn cùng.”